Hạc Hiên Các - 鹤轩阁

Hạc Hiên Các - 鹤轩阁 稽首皈依道道在玉京山

Cửu Thiên Ứng Nguyên Lôi Thanh Phổ Hóa Thiên Tôn Ngọc Xu Bảo Kinh (九天應元雷聲普化天尊玉樞寶經)Còn gọi là Lôi Diên Ngọc Xu Bảo Kinh (...
02/06/2026

Cửu Thiên Ứng Nguyên Lôi Thanh Phổ Hóa Thiên Tôn Ngọc Xu Bảo Kinh (九天應元雷聲普化天尊玉樞寶經)

Còn gọi là Lôi Diên Ngọc Xu Bảo Kinh (雷筵玉樞寶經).Uớc chừng ra đời vào cuối Bắc Tống hoặc đầu Nam Tống, gồm một quyển, được thu nhập vào Đạo Tạng, thuộc Đỗng Chân bộ, bản văn loại.

Bản kinh văn mượn lời thuyết của Lôi Thanh Phổ Hóa Thiên Tôn. Vị thần này là một trong Cửu Thần (九宸) của Thần Tiêu Phủ (神霄府) nơi thượng giới, ngài tổng quản ngũ lôi, phổ hóa quần sinh, thưởng thiện phạt ác.

Nội dung chủ yếu của kinh văn có thể chia làm hai phần.

Thứ nhất luận thuật về “Chí Đạo” (至道). Trong kinh nói rằng: “Đạo giả, dĩ thành nhi nhập, dĩ mặc nhi thủ, dĩ nhu nhi dụng. Dụng thành tự ngu, dụng mặc tự nột, dụng nhu tự chuyết. Phù như thị, tắc khả dữ vong hình, khả dữ vong ngã, khả dữ vong vong.” (Đạo vậy, lấy chân thành mà nhập đạo, lấy tĩnh mặc mà giữ gìn, lấy nhu hòa mà làm dụng. Dùng chân thành thì giống như ngu muội, dùng lặng lẽ thì giống như ngọng nghịu, dùng nhu hòa thì giống như vụng về. Được như thế, thì có thể cùng quên đi hình hài, có thể cùng quên đi cái bản ngã, có thể cùng quên đi cả cái sự quên đó.) Lại nói rằng: “Duy kỳ vong nhi bất vong, vong vô sở vong, vô khả vong giả, tức thị chí đạo.” (Chỉ có cái quên mà chẳng phải quên, quên đến chỗ không còn gì để quên, không còn cái gì có thể quên được nữa, thì đó chính là Chí Đạo.)

Thứ hai bàn về “Khí Số” (氣數). Cho rằng, cái mà con người bẩm thụ không giống nhau, gọi là Khí (氣), sự khôn dại trong đục, gọi là Số (數). Số thì buộc vào mệnh, Khí thì buộc vào trời. Người học đạo nếu như bị Khí Số vây khốn, bị Thiên mệnh gông cùm, thì không thể đạt được chân đạo.

Kinh văn lại thuật lại phương pháp tiêu tai giải ách. Nói rằng, phàm khi gặp phải Tam Tai, Cửu Ách, thì có thể y theo phép tắc mà trì tụng kinh văn. Nếu như mặc niệm danh hiệu của Phổ Hóa Thiên Tôn (普化天尊), thì liền có chư thần đến tiêu tai giải ách.

Dẫn dịch từ: Đạo Giáo Đại Từ Điển

01/06/2026

DAY 2 - Thượng Thanh Tông Đàn - Truyền Độ Đại Điển 2026

GIAI THOẠI VƯƠNG LINH QUAN BÁI SƯ TÁT TỔ Trong đoạn “Đại náo thiên cung” của Tây Du Ký, nói đến vị thần tướng có thể đán...
01/06/2026

GIAI THOẠI VƯƠNG LINH QUAN BÁI SƯ TÁT TỔ

Trong đoạn “Đại náo thiên cung” của Tây Du Ký, nói đến vị thần tướng có thể đánh ngang tay với Tôn Đại Thánh, rất nhiều người nghĩ đến ngay Nhị Lang Thần Dưỡng Tĩnh. Thực ra còn có một người nữa, đó chính là tá sử của Hựu Thánh Chân Quân – Vương Linh Quan. Trong hồi thứ XII của Tây Du Ký, khi Tôn Ngộ Không vừa nhảy ra khỏi Lò Bát Quái và đại loạn thiên cung, hai người họ đã từng giao thủ ở trước Linh Tiêu Bảo Điện, đánh nhau mà không phân thắng bại.

Trong Đạo giáo có tới 500 vị Linh Quan, mà Vương Linh Quan chính là vị đứng đầu trong số đó. Ngài theo học với một trong “Tứ Đại Thiên Sư” là Tát Thủ Kiên – Tát Thiên Sư và câu chuyện bái sư của ngài cũng có một giai thoại được lưu truyền hết sức rộng rãi.
Sau khi Tát Thiên Sư đắc đạo, một ngày nọ ngài vân du đến huyện Tương Âm. Nhìn thấy miếu thành hoàng ở đây muốn tế tự đồng nam đồng nữ, ắt không phải việc làm chính đạo, ngài bèn thi triển pháp thuật, giáng lôi đình đánh cháy miếu Thành Hoàng. Mà vị thành hoàng của huyện này chính là Vương Linh Quan lúc bấy giờ, tên thật là Vương Ác. Ông ta thất Tát Thiên Sư lợi hại như vậy, bèn liền đến tìm vị Thành Hoàng của Tình để hỏi rõ nguyên do. Vị Thành Hoàng kia nói rằng: “Vị Tát Chân Nhân này thần thông quảng đại, pháp lực vô biên, người thường không làm gì nổi ông ấy đâu. Ta cũng không giúp được ngươi, chi bằng hãy ngươi hãy theo ông ấy 12 năm. Trong thời gian đó, nếu ông ấy sinh ra một chút ý niệm bất thiện nào, thì ngay lập tức cho phép ngươi dùng cây kim tiên (cây roi vàng) đánh chết ông ta, để báo mối thù trước đây. Sau đó ta sẽ bẩm báo rõ ràng lên Ngọc Đế.” Nói xong lời lịa sợ Vương Ác vọng báo thù riêng, vị Thành Hoàng kia còn phái thêm một vị Sứ giả cùng đi theo giám sát.

Lúc này, Tát Thiên Sư vẫn còn đang ở huyện Tương Âm, vì đã cứu đôi đồng nam đồng nữ của nhà họ Cao nơi đây, ngài được người ta hậu tạ. Lão gia nhà họ Cao đã chuẩn bị một trăm lượng bạc, một trăm lượng vàng, năm mươi tấm gấm, năm mươi xâu đồng, để tạ ơn cứu mạng của Tát Thiên Sư. Ngài nói rằng: “Có tấm lòng này là đủ lắm rồi. Nếu nhất định phải tặng những thứ vàng bạc tài vật này, thì không phải là yêu quý ta, mà trái lại còn làm liên lụy đến ta. Bần đạo tuyệt nhiên không dám nhận.” Vị Sứ giả ở trong một không gian khác nhìn thấy rõ ràng rành mạch, liền khen rằng: “ Người này khinh tài trọng nghĩa, tốt quá, tốt quá.” Vương Ác lại nói: “ Ngươi đừng có quá khen ngợi ông ta, sau này nhất định sẽ tìm ra sơ hở của ông ta. Đến lúc đó ta nhất định sẽ dùng cây kim tiên này khiến cho ông ta phải bỏ mạng.

Sau khi Tát Thiên Sư rời khỏi nhà họ Cao, liền đi khắp nới vân du. Vương Ác vì muốn báo thù nên cũng vẫn thường xuyên đi theo bám sát ngài. Một ngày nọ, đi đến giữa cánh đồng, có một người phụ nữ đang nhổ rau. Thấy Thiên Sư đi qua, cô ấy liền cung kính đưa ra hai cây rau, để ngài đỡ đói khát. Vương Ác vừa nhìn thấy liền nói: “Nam nữ thụ thụ bất thân”, hôm này có thể thưởng cho ông ta một roi rồi”. Chỉ thấy Tát Thiên Sư sau khi cảm tạ, vội vàng xin nói: “ Xin hãy cứ đặt ở trên đất, để tôi tự lấy.” Đồng thời lấy ra mấy mấy đồng tiền đặt lên đất, bảo người phụ nữ ấy nhận lấy, nếu không thì không thể lấy rau của cô được. Người phụ nữ thấy ngài giữ lễ như vậy, đành phải làm theo. Lại thấy ngài chỉ lấy một cây rau, bèn hỏi nguyên do. Ngài mới đáp rằng: “ Một cây là đủ rồi. Lấy nhiều ắt tổn hại đến sự thanh liêm của tôi”. Sứ giả thấy vậy, lại khen rằng: “Thật là bậc quân tử hiểu lễ nghĩa, khó có được, khó có được.” Vương Ác lại nói: “Lần này để cho ông ta thoát được roi này. Cứ theo dõi tiếp xem, thế nào cũng khiến cho ông ta chết trong tay ta mà thôi”

Lại có một hôm Thiên Sư đang đi đường, bỗng nhiên cuồng phong nổi lên dữ dội, mưa to như trút nước. Chỗ này phía trước không có thôn xóm, phía sau cũng chẳn có quán xá, ngài liền bị trận mưa xối ướt sũng. Vương Ác thấy vậy nói: “Ông ta bị gió táp mưa sa như thế này, nếu như có một mối tơ nào hào tâm ý nào oán trách mưa gió, thì nhất định sẽ thưởng cho ông ta một roi.” Tát Thiên sư tiếp tục đội mưa mà đi. Đúng lúc ấy, có một đoàn lữ khách đi tới, chừng mười hai mười ba người. mọi người đều nhao nhao lên tiếng oán trách mưa gió. Có người oán rằng: “Cơn gió này chẳng hợp thời, trận mưa này mưa chẳng hợp lúc” Lại có người nói: “Tôi mà là thần tiên, nhất định sẽ đem thần gió và thần mưa treo ngược giữa không trung, mỗi người đánh cho một ngàn ròi.” Tát Thiên Sư lại nói với họ rằng: “Các vị đừng có mà nói như vậy. Đây là do trời định, xin đừng có oán cái nọ trách cái kia như thế.” Một vị khách thương trong đó bèn hỏi: “ Ông bị mưa ướt sũng hết cả người như vậy, không sợ bị bệnh sao? Mà còn rộng lượng như thế.” Lại có một người nói: “ Mưa không tạnh chỉ e rằng ông không có quần áo để thay”. Tát Thiên Sư lại nói: “Hôm nay trời mưa to, ngài mai trời trời nắng. Đến lúc ấy mặt trời sẽ tự nhiên thay tôi hong khô. Lẽ nào ông trời lại chịu để chúng ta phải chịu thiệt thòi?”

Cơn mưa tạnh, Thiên Sư cởi y phục ra hong cho khô, mặc chiếc áo ngắn mà ngâm thơ rằng: "Vũ sậu phong cuồng thiên địa hôn, trường đồ lữ khách dục tiêu hồn. Nhi kim hỉ đắc dương hòa xuất, đa tạ thương thiên phúc hựu ân." Nghĩa là: Mưa gí điên trời đất tối, khách đường xa những muốn tiêu hồn. May mà nay mừng được nắng ấm, đa tạ ơn trời xanh che chở”. Vị Sự Giả thấy ngài lúc trời mưa thì bị ướt sũng thê thảm, thật đáng thương làm sao, đến lúc trời nắng lại ngâm thơ đáp tạ ông trời. Bèn thán rằng: “Thật là người tốt vậy, thật là người tốt vậy” Thế nhưng Vương Ác vẫn chưa phục.

Một ngày nọ. Thiên Sư đi đến một trạm dịch. Bỗng nhiên nhìn thấy có một viên minh châu sáng lấp lánh, bèn nhặt lên, phủi sạch bụi đất rồi cho vào trong tay áo. Vương Ác vừa nhìn thấy liền muốn thưởng cho một roi, nói rằng: “ Nhặt được của rơi không lấy làm của mình, đó là phong tục thuần hậu từ thời xưa. Ông ta ở trên đường đi mà nhặt minh châu của người khác, không thưởng ông ta một roi ngay bây giờ thì còn đợi đến bao giờ?” Sứ giả ngăn lại, bảo ông ta khoan khoan hành động. Tát Thiên Sư sau khi nhặt được viên minh châu, liền ngồi ở trên bãi cỏ để chờ người đánh mất. Đợi mãi đợi mãi, cũng không có thấy ai đến tìm. Sợ lo rằng người mất đồ sốt ruột tìm đến, ngài liền ngồi ở bãi cỏ ấy suốt cả một đêm. Còn người đánh mất đồ, sau khi phát hiện minh châu không còn nữa trong khoảnh khắc ấy muôn mối sầu lo, cất tiếng khóc lớn rằng: “Cái ăn cái mặc của tôi cũng ở vien châu ấy, cưới vợ xây nhà cũng ở nơi viên châu ấy. Nay viên châu không thấy đâu nữa rồi”. Bèn vội vàng men theo đường cũ mà tìm. Tát Thiên Sư vừa nhìn thấy người này hoảng hốt tìm khiếm như vậy, hỏi rõ ràng mọi chuyện, liền đem trả lại minh châu. Người kia cảm kích vô cùng, muốn có chút gì đó cảm tạ lại, nhưng Tát Thiên Sư lại một xu cũng chẳng nhận. Lần này Vương Ác vẫn chưa thể nào mà báo thù được.

Lại kể, một hôm Tát Thiên Sư tìm đến một thôn trang. Trời đã tối muộn ngài đi đến trước cửa một nhà nọ, nhìn thấy có một cái cổng nhỏ, định bụng sẽ ngồi dưới mái cổng ấy nghỉ qua một đêm rồi đi. Đúng lúc ấy, nữ chủ nhân của ngôi nhà này là người không giữ trọn phụ đạo, buổi tối muốn tư thông với tình lang, thấy có một vị đạo nhân ở trước cửa “Kỳ đà cản mũi” thật là bất tiện, bèn sai người hầu mời ngài vào phòng khách ngủ. Tát Thiên Sư chỉ tưởng rằng đây là một gia đình hiền đức, nào có biết rằng nam chủ nhân không có nhà. Đến buổi tối, nữ chủ nhân không đợi được người mình mong ngóng, bèn đem tà ý đánh lên người Thiên Sư. Ở trong một không gian khác, Sứ Giả nói với Vương Ác rằng: “ Đây là một cửa ải quan trọng”. Bởi vì Tát Tổ không có cài chốt cửa phòng, cho nên nữ chủ nhân kia liền trực tiếp đẩy cửa xông thẳng vào, định dùng lời ngon ngọt đệ dụ dỗ Thiên Sư cùng ả làm ra chuyện chim chuột. Tát Tổ ngài dùng lời hay khuyên can, nhưng ả cử một mực không nghe. Cuối cùng, Thiên Sư bất đắc gĩ, đành phải rút thanh kiếm ra, đưa cho nữ chủ nhân, rồi quỳ hai gối xuống, hai dòng lệ tuôn chảy, nói rằng: “Nếu như cô cứ một mực cố ý như vậy, thì hãy dùng thanh kiếm này mà chém xuống đầu bần đạo đi”. Nữ chủ nhân lúc này mới thôi. Sứ giả thấy vậy bèn nói: “Đại nghiệp chướng như thế này, may mà Tát Quân đã thoát khỏi, thật khó là khó có được, khó có được”. Lúc này, ngay cả Vương Ác cũng khởi chút tâm khâm phục.

Cứ như vậy thời gian thấm thoát trải qua mười hai năm. Thời hạn vừa đến, Quan Sứ giả nhìn thấy Tát Thiên Sư có đức hạnh cao vời vợi như thế, bèn khuyên Vương Ác, hãy bái Tát Thiên Sư làm thầy. Lúc đấy Vương Ác cũng đã hoàn toàn tâm phục khẩu phục, liền ngay lập tức đồng ý.

Một ngày nọ, Tát Thiên Sư đi đến một mơi. Trước mắt là làn nước mùa thu trong vắt, bèn ngâm một bài thơ rằng:
"Dã thủy liên thiên thu nhất sắc,
tây phong bất động bích ba bình.
Hoằng hoằng bất hứa vi trần cốt,
trạm trạm do lai triệt để thanh.
Vạn khoảnh lãnh hàm la đại lục,
nhất xuyên hàn dạng áp đầu thanh.
Nhân tâm nhược thị vô tra tử,
tự tín hung trung ngọc giám minh."

Dịch
Nước đồng liền trời thu một sắc,
gió tây chẳng động sóng biếc phẳng.
Mênh mông chẳng để bụi trần dơ,
trong vắt từ xưa thấu tận đáy.
Muôn khoảnh lạnh bao hàm la đại lục,
một sông lạnh gợn sóng áp đầu xanh.
Lòng người nếu mà không cáu bẩn,
tự tin trong ngực ngọc giám sáng.

Lúc này, bỗng nhiên nhìn thấy trong nước hiện ra một cái thần ảnh. Đó chính là Vương Ác. Ông đã đem câu chuyện mình đã đi theo Tát Tổ để xem xét việc báo thù, nói rõ xong xuôi rồi thành khần biểu thị rằng mình muốn diện ác trừng thiện, đi theo Tát Thiên Sư để tu học Đạo. Ngài thấy vậy, liền hoan hỷ mà nhận lời. Rồi đem chữ Ác trong tên của ông đôi thành chữ Thiện. Từ nay trở về sau, liền gọi là Vương Thiện là vì vậy.

Nhân tâm sinh nhất thiện, thiên địa tận gia tri. Ngẩng đầu tam xích ắt có thần linh. Vô số các vị thần ở trong một không gian khác, đều đem từng hành vi, từng ý niệm của mỗi chúng sinh mà ghi chép cho rõ ràng rành mạch, không có gì có thể trốn tránh được. Lại càng có các vị thần chủ quản ghi chép, đem từng điều một mà ghi vào sổ sách, và lấy đó làm căn cứ. Người tốt thì ban cho phúc báo, kẻ xấu thì giáng xuống tai ương. Còn thiện niệm của những bậc đại thiện chẳng những có thể xu cát tị hung, mà lại còn có thể cảm hóa được người khác. Những người thường xuyên lưu giữ thiện niệm, lấy khổ làm vui, thì cuối cùng sẽ nghênh đón được sự thăng hoa và quay trở về của sinh mệnh.

Chính Dương Tổ Sư Chung Ly Quyền Khánh Đản Ngày hôm này chính là ngày đản sinh của Tổ sư Chung Ly Quyền, một trong Ngũ t...
31/05/2026

Chính Dương Tổ Sư Chung Ly Quyền Khánh Đản

Ngày hôm này chính là ngày đản sinh của Tổ sư Chung Ly Quyền, một trong Ngũ tổ Toàn Chân phái, bậc mang khí chất hào hiệp bậc nhất trong Bát Tiên.

Tương truyền khi Tổ sư giáng sinh, có luồng ánh sáng lạ cao mấy trượng, hình dáng như ngọn lửa dữ dội. Tướng mạo ngài khác biệt người thường đỉnh đầu tròn, vầng trán rộng, tai dày mày dài, mắt sâu mũi cao, miệng vuông má lớn, môi và mặt đỏ như son, nhũ hoa xa cánh tay dài. Càng kỳ lạ hơn, đứa trẻ ấy ngày đêm không than, không khóc, không bú mớm gì, cho đến ngày thứ bảy bỗng bật dậy cất lời, tiếng vang như chuông lớn: “Thân đã từng dạo chơi nơi Tử Phủ, tên đã được ghi vào sổ Ngọc Kinh.” Lời vừa thốt ra, bốn bề kinh ngạc, bởi Tử Phủ và Ngọc Kinh đều là cung thành của Ngọc Đế, điềm báo ngài sinh ra vốn đã được liệt vào hàng tiên. Đến tuổi tráng niên, Tổ sư dung mạo hùng vĩ, học rộng văn võ song toàn, thân cao tám thước bảy tấc, râu dài quá bụng, mắt chứa thần quang, làm quan tới chức Đại tướng quân.

Tổ Sư Chung Ly Quyền, họ Chung Ly, tên Quyền, tự Vân Phòng, một tự khác là Tịch Đạo, hiệu Chính Dương Tử. Vì là Đại tướng thời Đông Hán, nên xưng là “Hán Chung Ly”. Ngài xuất thân tướng quân nhưng nhập đạo thành tiên, trên kế thừa Đông Hoa Đế Quân, dưới truyền cho Lã Động Tân, Lưu Hải Thiềm, giữ vai trò kế thừa trong truyền thừa Đạo giáo, là người thúc đẩy quan trọng cho sự hình thành của Bát Tiên.

Đô Tán chân tiên: Vị thần tiên tiêu dao bước ra trăm họ ngàn đời

Trong Bát Tiên, hình tượng của Tổ sư Chung Ly Quyền là rõ nét nhất: chải tóc hai búi kép, râu dài quá bụng, để ngực trần lộ bụng, tay cầm quạt bồ lớn, nụ cười vui vẻ. Càng đáng suy ngẫm hơn chính là biệt hiệu tự xưng “Thiên hạ đô tán hán” của ngài – một chữ “tán” (phóng túng, giải tán) đã diễn tả hết thảy khí tượng tiên gia tiêu sái, ngạo nghễ cõi trần. Sách “Tuyên Hòa thư phổ” hình dung dáng vẻ của ngài: “Làm bậc trượng phu vĩ ngạn, hoặc đội mũ cao mặc áo tím sẫm, hoặc râu quai nón tóc bồng bềnh, không đội khăn chỉ hai búi tóc trên đỉnh đầu, thân hình cao lớn sừng sững, khinh thị ngoại vật”.

Các Hoàng đế triều Nguyên đối với Chung Ly Quyền cũng cực kỳ tôn sùng. Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt năm Chí Nguyên thứ sáu phong ngài là “Chính Dương Khai Ngộ Truyền Đạo Chân Quân”, Nguyên Vũ Tông lại gia phong làm “Chính Dương Khai Ngộ Truyền Đạo Thùy Giáo Đế Quân”.

Trong hệ thống Bát Tiên của Đạo giáo, Bát Tiên phân biệt đại diện cho tám loại người: nam, nữ, lão, thiếu, phú, quý, bần, tiện, đều là phàm nhân đắc đạo, cá tính gần gũi với bách tính. Chung Ly Tổ sư với thân phận Đại tướng quân năm xưa, dấn thân vào chốn sơn lâm, tu thành đại đạo rồi lại đi vào chốn phố chợ, độ hóa nam nữ già trẻ, là người gần gũi dân chúng nhất, thấu hiểu nỗi ấm lạnh thế gian nhất.

Lại đến ngày mười lăm tháng tư, đản sinh Chính Dương, tiên trạch chiếu khắp. Nguyện đạo chúng cảm niệm khí khái tiêu dao “Thiên hạ đô tán hán” của Tổ sư, tâm giữ chính đạo, hành thiện tích đức, giữ vững chính khí thuần dương, gột rửa bụi nhơ trong tâm, đắc được thanh tịnh tự tại, phúc tuệ song tăng.

Đạo giáo nhập môn kinh điển — Vãn Khóa Kinh (晚課經)Vãn Khóa Kinh, tên gọi đầy đủ là Thái Thượng Huyền Môn Vãn Đàn Công Khó...
30/05/2026

Đạo giáo nhập môn kinh điển — Vãn Khóa Kinh (晚課經)

Vãn Khóa Kinh, tên gọi đầy đủ là Thái Thượng Huyền Môn Vãn Đàn Công Khóa Kinh (太上玄門晚壇功課經). Kinh này cùng với Tảo Khóa (早課) đều là những kinh điển mà Đạo sĩ Đạo giáo mỗi ngày ắt phải trì tụng.

Cần phải biết rằng, đối tượng mà Thiên Tôn thùy giáo không chỉ riêng là loài người, mà Đạo khí che chở hóa dục vạn, trong đó cũng bao gồm cả "vong linh". Tế độ vong hồn, là một nội dung rất quan trọng trong tu luyện của Đạo giáo, chính “Vãn Đàn Công Khóa Kinh” là một bộ kinh lấy chủ đề ấy làm nền tảng.

Vãn khóa thường được tụng vào giờ Dậu ( 17h- 19h). Lúc này dương khí suy vi, âm khí dần thịnh, tà khí vãng lai du đãng. Vào giờ này, trì tụng Vãn Khóa, đối với người mà nói thì có thể tiêu trừ mệt mỏi, lắng dịu thân tâm; đối với vong linh mà nói thì có hiệu quả siêu độ và tế luyện.

Kiền thành tâm trì tụng, nhờ vào sự chí thành mà cung thỉnh Chư Thiên Tôn giáng lâm, cứu vớt chúng sinh hữu tình hữu tính trong hai cõi, khiến cho nhân – quỷ hai nẻo đều được tiêu dao tự tại. Cũng giống như kinh Tảo Đàn Công Khóa, kinh Vãn Đàn Công Khóa cũng có thể chia làm bốn phần: Tán tụng, Kinh văn, Bảo cáo và Hồi hướng.
Phúc Sinh Vô Lượng Thiên Tôn

30/05/2026

Day 1 - Thượng Thanh Tông Đàn - Truyền Độ Đại Điển 2026

LỮ ĐỘNG TÂN THÁNH ĐẢN Lã Nham (吕岩 – cũng viết là 喦, 嵓), tự Động Tân (洞宾), hiệu Thuần Dương Tử (纯阳子), là người sống vào k...
30/05/2026

LỮ ĐỘNG TÂN THÁNH ĐẢN

Lã Nham (吕岩 – cũng viết là 喦, 嵓), tự Động Tân (洞宾), hiệu Thuần Dương Tử (纯阳子), là người sống vào khoảng cuối Đường đầu Tống. Ngài xuất thân từ gia đình quan lại, nhưng lại gặp phải thời loạn thế, vân du khắp nơi, lưu lại rất nhiều sự tích. Những sự tích này được ghi chép rất nhiều trong các tập bút ký của văn nhân thời Tống. Ngoài ra, trong các loại hình văn học nghệ thuật như tạp kịch thời Nguyên, tiểu thuyết thời Minh – Thanh, cũng có vô số tác phẩm phong phú được lưu truyền rộng rãi.

Lã Động Tân không chỉ được Toàn Chân giáo của Đạo giáo tôn phụng làm một trong Ngũ Tổ, được trải các đời hết sức tôn sùng; mà trong các truyền thuyết dân gian, ngài cũng được coi là một vị thần tiên toàn năng toàn tài, có một nền tảng tín ngưỡng vô cùng rộng rãi phong phú.

Học thuyết nội đan mà Lã Động Tân xướng đạo rất chú trọng việc tu thân dưỡng tính, truy cầu sự khỏe mạnh thân tâm, kéo dài tuổi thọ. Ngài từ bỏ thuật ngoại đan dùng chì và thủy ngân để luyện đan, cùng với Chung Ly Quyền Tổ sư sáng lập ra “Chung Lã Kim Đan Phái” nổi tiếng, có ý nghĩa mang tính thời đại trong lịch sử Đạo giáo. Đời sau, Vương Trùng Dương Tổ sư sáng lập Toàn Chân giáo, giáo nghĩa của phái này kế thừa tư tưởng nội đan của Chung – Lã, coi trọng việc tu tính, không chuộng phù triện. Trong thi văn của Vương Trùng Dương và “Thất Chân”, đều có thuyết cho rằng giáo pháp của Toàn Chân bắt nguồn từ Chung – Lã, và Vương Trùng Dương đã đắc được đan quyết của Lã Động Tân. Lã Động Tân cùng với Vương Huyền Phủ, Chung Ly Quyền, Lưu Hải Thiềm, Vương Trùng Dương được gọi chung là Toàn Chân Ngũ Tổ.

Trong dân gian, Tổ sư có sở trường về y thuật, thường xuyên tùy thân mang theo đan dược để trị bệnh cứu người. Tương truyền, rượu ở trong chiếc hồ lô của ngài có thể trị được trăm bệnh, có công hiệu cải tử hoàn sinh. Hơn nữa, ngài chỉ vì những người lương thiện và những người cùng khổ mà chữa bệnh. Ngoài ra, ngài còn là một vị “Kiếm Tiên” có tấm lòng hiệp can nghĩa đảm, trừ bạo an lương. Tống Sử – Trần Đoàn Truyện chép rằng: “Ẩn sĩ ở Quan Tây là Lã Động Tân có kiếm thuật, hơn trăm tuổi mà mặt vẫn như trẻ thơ, bước đi nhẹ nhàng nhanh nhẹn, trong chốc lát đã đi được vài trăm dặm. Người đời đều cho là thần tiên, thường thường lui tới am tranh của Trần Đoàn, mọi người ai cũng lấy làm kỳ lạ." Ở phần đầu quyển sách Lã Tổ Chí, cũng có vẽ một bứ chân dung thêu chép lại cảnh Lã Tổ đeo bảo kiếm sau lưng.

Về nguồn gốc kiếm pháp của ngài, có thuyết cho rằng đó là “Thiên Độn Kiếm Pháp” đến từ Hỏa Long Chân Nhân. Một thuyết khác lại nói rằng, Chung Ly Quyền vốn là một vị tướng quân thời nhà Tấn, trong mình mang võ công, đã đem kiếm pháp truyền thụ cho Lã Động Tân. Tống Sử gọi Lã Động Tân là người được hậu thế ngợi khen là “Kiếm Tiên”. Ngài từng tự nói: “Ta… thực ra có ba thanh kiếm: một chặt đứt phiền não, hai chặt đứt tham sân, ba chặt đứt sắc dục. Đó chính là kiếm pháp của ta vậy." Kiếm pháp của Lã Động Tân linh động phiêu dật, uyển chuyển như rồng bay. Đời sau gọi đó là “Thuần Dương Kiếm Pháp”.

Câu chuyện nổi tiếng nhất về việc Lã Động Tân từ một Nho sĩ chuyển sang tu Đạo, chính là việc ngài được Chung Ly Quyền dùng giấc mộng “Hoàng Lương Mộng Giác” để điểm hóa. Trong điển tịch Đạo giáo Thuần Dương Đế Quân Thần Hóa Diệu Thông Kỷ đã ghi chép lại tường tận điển cố “Hoàng Lương Mộng Giác” này. Lã Động Tân đến Trường An để ứng thí, trọ ở một quán trọ. Có một vị Đạo sĩ “dụ hóa đế quân (chỉ Lã Động Tân) nhập đạo”. Lã Động Tân lấy lý do cầu quan chức để làm rạng rỡ tổ tông mà từ chối. Vị Đạo sĩ nghe xong chỉ cười. Khi tên tiểu đồng đang nấu cơm, Lã Động Tân cảm thấy buồn ngủ. Vị Đạo sĩ bèn đưa cho ngài một chiếc “Như Ý Chẩm” (một loại gối cổ). Lã Động Tân gối đầu lên chiếc gối, nằm mộng thấy mình thi đỗ ngay, đường quan hanh thông, con cháu đầy đàn, quyền thế ngập trời. Nhưng rồi bỗng nhiên lại bị trọng tội, bị tịch biên nhà cửa, vợ con ly tán. Trong cơn gió tuyết, chỉ còn lại một thân cô độc, cùng khổ lưu lạc. Bỗng nhiên tỉnh mộng, thấy vị Đạo sĩ đang đứng bên cạnh cười, nói rằng: “Nồi kê vàng còn chưa chín, mà một giấc mộng đã tới cõi Hoa Tư." Lã Động Tân từ đó mà đại triệt đại ngộ. Vị Đạo sĩ ấy chính là Chung Ly Quyền. Sau này, Chung Ly Quyền đã mười lần thử thách Lã Động Tân, rồi truyền thụ cho ngài Thượng Thanh bí pháp. Lã Động Tân về sau đã đến những nơi như Chung Nam Sơn để ẩn cư tu đạo.

Mỗi khi đến ngày mười bốn tháng tư âm lịch – ngày thánh đản của Lã Tổ, thì hương hỏa cúng dường Lã Tổ lại tấp nập không ngớt. Vào ngày này, nếu chư vị tín chúng không dự pháp hội để “chen chúc với thần tiên”, thì chi bằng hãy thư nhàn một chút, cùng ngồi lại với người nhà, hoặc là mở ra một cuốn sách thơm hương, đại ẩn nơi phố thị, đem cái khói lửa của nhân gian, mà sống thành một cuộc đời của thần tiên.

Đạo giáo nhập môn kinh điển — Tảo Khóa Kinh Tảo Khóa Kinh, tên đầy đủ là Thái Thượng Huyền Môn Tảo Đàn Công Khóa Kinh (太...
29/05/2026

Đạo giáo nhập môn kinh điển — Tảo Khóa Kinh

Tảo Khóa Kinh, tên đầy đủ là Thái Thượng Huyền Môn Tảo Đàn Công Khóa Kinh (太上玄門早壇功課經). Vì sao Đạo sĩ Đạo giáo mỗi ngày ắt phải trì tụng kinh Tảo Đàn Công Khóa này?
Phần mở đầu của kinh đã nói rằng:

“Công khóa, chính là tự xét công phu của chính mình. Xét công phu của bản thân, chính là tu đạo nơi thân mình. Muốn tu đạo nơi tự thân thì phải nương nhờ điển tịch của chư vị tiên thánh đời trước. Tụng đọc "kim thư ngọc cấp" của các bậc thượng thánh, để làm sáng tỏ bản tính chân tâm của chính mình. Không có khoa giáo ắt không thể hoằng dương Đại Đạo, không có khóa tụng ắt không thể bảo dưỡng nguyên hòa. Kinh sở dĩ là kinh, là tâm tông của các bậc khai tông tiên thánh; chú sở dĩ là chú, chính là diệu pháp của các bậc cổ tiên. Người tụng đọc một cách chí tâm chí thành, thì kinh sáng tỏ; người hành trì một cách thuần thành cẩn mật, thì pháp linh nghiệm."

Khi đăng đường tụng kinh, cần phải thành tâm, cung kính. Thiết yếu phải trai giới, nghiêm chỉnh y quan, thận trọng chớ có khinh mạn, giao đàm tiếp ngữ. Bởi vì kim thư ngọc tịch (sách vàng sách ngọc), chính là cửa tường để cho chúng ta tiệm nhập chân Đạo. Tụng kinh niệm chú, chính là đường tắt đến nẻo tiên chân. Chỉ có niệm niệm không trái nghịch, tùy tâm đảo chúc, mới có thể tự nhiên cảm ứng được đạo tổ rủ lòng thương xót.

Cho nên vì vậy, toàn thể đạo chúng trong đạo tràng đều phải giữ lòng cung kính, mỗi người đều phải nghiêm cẩn, đoan trang trước án đường, phúng kinh đúng phép.
Phúc Sinh Vô Lượng Thiên Tôn.

Đạo giáo pháp đàn (道教法壇): Tức là tông đàn (宗壇) nơi Đạo giáo cử hành các hoạt động tôn giáo. Về cơ bản có thể chia làm ba...
27/05/2026

Đạo giáo pháp đàn (道教法壇):
Tức là tông đàn (宗壇) nơi Đạo giáo cử hành các hoạt động tôn giáo. Về cơ bản có thể chia làm ba loại: Tiếu đàn (醮壇), Lục đàn (籙壇) và Giới đàn (戒壇).

1. Tiếu đàn (醮壇)

Tức là pháp đàn nơi Đạo giáo cử hành các khoa nghi trai tiếu (齋醮). Các vị đạo sĩ tham gia khoa nghi trên tiếu đàn được gọi là “Tiếu đàn chấp sự”. Chủ yếu có các chức vị sau:

Cao Công còn gọi là “Pháp sư”. Là vị chấp sự chủ yếu trong khoa nghi trai tiếu. Tùy theo quy mô của buổi trai tiếu, có khi một vị, có khi ba vị.

Kinh Sư (經師): Là vị chấp sự đảm nhiệm việc xướng niệm kinh vận và đánh pháp khí trong khoa nghi trai tiếu. Tiếu đàn của Toàn Chân phái thông thường dùng đến tám vị, gọi là “Bát Đại Kinh Sư”.

Đề Khoa (提科): Phụ trách việc đề âm tiếp vận.
Biểu Bạch (表白): Phụ trách việc tấu trần biểu văn.
Ngoài ra còn có các chức vụ khác như Thị Kinh, Thị Hương, Thị Đăng v.v.

2. Lục đàn (籙壇)

Là pháp đàn nơi các đạo sĩ thuộc Chính Nhất phái được truyền thụ kinh lục. Được gọi là “Vạn Pháp Tông Đàn”. Lục đàn thiết lập ba chức vị sư:

Truyền Độ Sư (傳度師): Vị chủ trì khoa nghi truyền thụ lục.
Giám Độ Sư (監度師): Thông thường do vị Trương Thiên Sư thế tập của Chính Nhất phái đảm nhiệm.
Bảo Cử Sư (保舉師): Phụ trách việc bảo tống đạo sĩ Chính Nhất tham gia thụ lục.

3. Giới đàn (戒壇)

Là pháp đàn nơi các đạo sĩ thuộc Toàn Chân phái được truyền thụ giới luật. Được gọi là “Huyền Đô Luật Đàn”. Việc truyền giới do vị Truyền Giới Luật Sư và Bát Đại Đại Sư cùng nhau hoàn thành.

Truyền Giới Luật Sư:
Còn gọi là “Truyền Giới Bản Sư” hay “Luật Sư”. Do vị Phương Trượng của tùng lâm truyền giới đảm nhiệm, phụ trách việc giảng thuyết giới luật và truyền thụ giới pháp cho các giới tử (người thụ giới). Việc tuyển chọn Luật Sư vô cùng nghiêm ngặt, phải là vị Phương Trượng đã thụ mãn Tam Đàn Đại Giới, tiếp nhận “Phương Trượng Pháp”, giới hạnh tinh nghiêm, đức cao vọng trọng mới có thể vinh dự đảm nhiệm chức vụ này.

Bát Đại Đại Sư truyền giới:

Chứng Minh Đại Sư: Phụ trách vì các giới tử (tức đạo sĩ thụ giới) giải thuyết giáo nghĩa kinh điển, kinh sám uy nghi v.v.
Giám Giới Đại Sư: Phụ trách giám sát ngôn hành của giới tử, không cho phép vi phạm quy tắc phạm giới, đối với người bất pháp thì có quyền trách phạt.

(Truyền Giới Luật Sư, Chứng Minh Đại Sư và Giám Giới Đại Sư, lại gọi là Giới Đàn “Tam Sư”, là ba vị trọng yếu nhất trên giới đàn.)

Bảo Cử Đại Sư: Thông thường do vị Giám Viện của tùng lâm truyền giới đảm nhiệm, phụ trách việc bảo cử giới tử tham gia thụ giới.

Diễn Lễ Đại Sư: Phụ trách việc truyền thụ cho giới tử các nghi thức đăng quy diễn lễ và uy nghi trên giới đàn v.v.
Củ Nghi Đại Sư: Phụ trách việc chỉnh sửa lại cho đúng các quy phạm lễ nghi cho giới tử.
Đề Khoa Đại Sư: Phụ trách các việc tụng kinh bái sám trên giới đàn.
Đăng Lục Đại Sư: Phụ trách việc đặt đạo hiệu cho giới tử, điền vào “Đăng Chân Lục” (tức là danh sách được biên chép theo thứ tự sau khi khảo kệ trên giới đàn).
Dẫn Thỉnh Đại Sư: Còn gọi là “Nghênh Thỉnh Đại Sư”. Phụ trách việc chủ trì các khoa nghi trai tiếu trên giới đàn, đảm nhiệm vai trò Cao Công.

Address

Đê La Thành/Đống Đa
Hanoi

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Hạc Hiên Các - 鹤轩阁 posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share