One's Own Fate

One's Own Fate Để tự nhắc mình ❤️

Khi ta đem hết sức lực khả năng vào thực hành, các ác nghiệp trong quá khứ thường hay nổi lên lại, làm cho các điều khôn...
04/06/2026

Khi ta đem hết sức lực khả năng vào thực hành, các ác nghiệp trong quá khứ thường hay nổi lên lại, làm cho các điều không mong muốn xảy ra như: thân thì bệnh tật, thấy tâm đau khổ, trải nghiệm những năng lượng tiêu cực và những chướng ngại xuất hiện, trở thành nạn nhân của những người thù hằn, hay có khi cướp giật, thấy mình thành tâm điểm để mọi người chê trách và buộc tội vu oan, vân vân.

Đó có khi là dấu hiệu của việc ta đang tịnh hoá bản thân, như bụi bẩn rớt ra khi rửa thùng chứa. Do đó, khi những điều này xảy đến với ta, hay khoác lên người bộ áo giáp tinh tấn phô tấm khiên thực hành không để những hoàn cảnh bất như ý xuyên qua.

Hay dù khi, thấy mình có một hai phẩm chất tốt đẹp chỗ này chỗ kia, như dấu hiệu tiến bộ trên đường đạo, nhưng thật khó để phân biệt được đó là dấu hiệu chân thực hay là những chướng ngại do ma chướng tạo ra.

Mà thậm chí kể cả khi dấu hiệu đó là chân thực, ngay thời điểm ta đưa ra ý nghĩa gắn với nó, chúng sẽ trở thành ma chướng, do vậy, bỏ hết những mong đợi, e ngại, và nghi ngờ, đừng bị dính mắc bởi dấu hiệu lành hoặc sợ vì dấu hiệu xấu.

Và biết rằng trên đường tu đạo, ta có thể mắc nhiều lầm lỗi, và đi chệch đường, nhưng những tội lớn đó là: đối xử với thượng sư như người ngang hàng; nhìn huynh tỉ đồng đạo với cặp mắt thiếu thanh tịnh; chê bai những thừa khác, những hệ thống kinh điển khác mà chỉ hãnh diện của thừa của mình, đường tu của mình; hành động giả tạo bề mặt với các nguyện của mình; để ngũ độc làm chủ; không tôn trọng nhân quả; phô trương kiến tu của mình và tự cho phép đại ngôn về Tánh không vân vân; nói chuyện với mọi người về trải nghiệm của mình; và nói dối về việc mình sở hữu phẩm chất siêu việt mà mình không có.

Nếu để những sai lầm này trở thành cơ sở thực hành hiển nhiên là lỗi lớn nhất, nhưng ngay cả khi đức Phật chính ngài thị hiện cũng khó mà chặn được con đường đầy hiểm hoạ mà chúng sinh có thể lạc lối này. Vì ta vốn được gia trì bởi ma chướng, và là chúng sinh trong thời mạt pháp, có nhưng mà ít nghiệp lành, do vậy, hay mà chạy theo những điều, hay những diễn thuyết hoàn toàn vô nghĩa, mà không hiểu điểm chân thực của Giáo pháp.

Thậm chí, ta theo một bậc Thầy, rèn luyện để đạt được phẩm chất tốt lành, thực hành nhập thất, và đọc nhiều kinh sách thâm sâu, những điều này không mang lại chút lợi ích gì cả và tính cách ta trở nên tệ hơn. Ta trở nên tự mãn hơn, mắt nhìn chân đế hiện tiền mờ dần, mà lại dành thời gian chủ yếu đi nhìn lỗi lầm kẻ khác.

Chúng sinh như ta không thẩm thấu được Giáo pháp, ta là những kẻ dễ buông bỏ những hứa nguyện, mang nặng hạt giống ác nghiệp của quá khứ, chúng ta thực sự được ma vương gia trì.

Bậc thầy từ bi của chúng ta, Đức Phật kết luận giáo lý của ngài trong có 4 câu kệ:

Từ bỏ các việc ác
Chỉ làm các việc lành,
Giữ tâm ý trong sạch
Đó là điều Phật dạy

Nếu ta phải tổng kết quả của tất cả thực hành Giáo pháp, đó là cần điều phục được tâm trí. Nhưng hiện giờ, có những hành giả cống hiến bản thân để hại những chúng sinh khác vì lợi ích của Giáo pháp, gây sự tranh cãi dùng giáo lý làm cớ, gài bẫy và lừa dối người khác với lý do vì lợi của chúng sinh - tất cả những điều này đi ngược với Giáo pháp đức Phật dạy chúng sinh. Đừng theo cách đó.

Đặc biệt, ngài Long Thọ có nói mấy câu kệ về bát phong, tám ngọn gió đời:

Bạn, người hiểu được thế giới, lấy được - mất,
lạc - khổ, khen - chê,
vinh - nhục, tám ngọn gió đời,
không khác biệt, đừng để chúng xáo động tâm mình.

Những ngọn gió đời này, chưa nói gì đến kẻ khác, mà với ngay cả các vị nói mình là người thực hành chân chánh, cũng bị dính nhơ mà không nhận biết, do vậy, việc quán sát thấu đáo là cực kỳ quan trọng.

Ngoài ra, có sáu phẩm tính sai lầm (tạm gọi là tà) nên ráng mà tránh:

• tà nhẫn, khi mà ta không thể chịu được khó khăn trong thực hành giáo pháp nhưng lại xoay xở chịu đựng những việc mệt mỏi chỉ để làm những dự án đời này đến cùng;

• tà [phát] nguyện, khi mà ta không có mong muốn thực hành pháp nhưng lại cực kỳ hăng hái khi thực hành để viên mãn tám ngọn gió đời;

• tà hỉ, khi mà ta không nếm ra vị khi nghe pháp, tư duy quán sát pháp, hay thiền định, nhưng lại thích thú vô cùng với những thú vui vật chất;

• tà bi, khi mà ta không cảm thấy từ bi khi ta hay người khác phạm vào ác nghiệp, nhưng cảm thấy thương xót những người đang trải qua những thử thách vì lợi ích của giáo pháp;

• tà dưỡng, khi ta đã không làm được việc giới thiệu con cái biết đến giáo pháp nhưng giúp chúng thành công trong đời;

• và tà tuỳ hỉ, khi mà thay vì tuỳ hỉ với những việc lành mà người khác làm, ta thấy vui khi kẻ thù mình gặp khó khăn.

Nếu chúng ta luôn có thể ngồi chỗ thấp nhất, sẽ chẳng có đường nào để ngã mạn hay tật đố chen vào. Và khi ngã mạn không sinh khởi, chướng ngại không thể xảy ra. Nhưng ngay thời điểm ta bắt đầu cảm thấy tự hào và nghĩ rằng “Ngay cả Thầy mình cũng chẳng hơn mình mấy”, “Những vị hành giả khác đâu có biết nhiều bằng mình”, vân vân, chướng ngại sẽ xảy ra.

~ Dudjom Rinpoche trong quyển, Ngọn đuốc soi đường giải thoát.

———
When we put all our energies into a practice, it is quite common for bad deeds from the past to surface, so that all sorts of unwanted things happen to us: we fall physically ill, feel mentally anguished, experience the manifestations of negative forces and obstacle makers, fall victim to hostile people, bandits, and thieves, find ourselves subject to people’s criticisms and false accusations, and so on.

These are said to be signs that we are purifying ourselves, like the dirt that comes out when one washes a container. Therefore, when such things happen to you, don the great armor of diligence that renders the practice impervious to unpleasant circumstances.

Although it may happen that we get one or two good qualities here and there as signs of progress on the path, it can be hard to distinguish whether they are genuine signs or obstacles caused by demons.

Even supposing they are genuine, the moment we attach any importance to them, they will turn into demonic obstacles, so get rid of all expectation, apprehension, and doubt, and do not be attached to good signs or frightened by bad ones.

It is said that while we are on the path, there are many mistakes we can make and ways in which we can go astray, but the principal errors are: to treat the teacher as an equal; to be lacking in pure perception with regard to one’s spiritual brothers and sisters; to criticize other philosophical systems while being proud of one’s own; to act hypocritically with regard to the commitments; to give the five poisons free rein; to have no respect for the law regarding actions and their effects; to air one’s views and indulge in big talk about emptiness and so forth; to tell all and sundry about one’s experiences; and to lie that one has sublime qualities that one does not have.

To make these the basis of one’s practice is obviously the greatest error, yet even if the Buddha were to appear in person, it would seem difficult to block this perilous path onto which one can stray, for we ourselves are blessed by demons, and beings in the decadent age have but little good fortune, so that there is much running after purely meaningless talk without understanding the real point of the Dharma.

Even though we follow a teacher, train in acquiring good qualities, practice in retreat, and read many profound texts, it does not do the slightest bit of good to our minds and our characters get worse and worse. We grow ever more proud, the eye of pure perception grows dim, and we pass the time only in examining others’ faults.

People like us are impervious to the Dharma, we are breakers of thecommitments, burdened with evil deeds from the past; we have truly been blessed by demons.

Our kind Teacher, the Buddha, summed up the Dharma as follows:

Abandon all evildoing,
Practice virtue perfectly,
Completely subdue your mind:
This is the Buddha’s doctrine.

If we were to summarize the whole result of practicing the Dharma, it is that the mind has to be tamed. And yet nowadays there are practitioners who devote themselves principally to harming others for the sake of the Dharma, getting involved in disputes using the teachings as a pretext, tricking and deceiving people with the excuse that it is for the sake of beings—everything in fact that the Buddha taught as being at variance with the Dharma. Do not follow such ways.

In particular, there are the eight ordinary concerns, of which Nagarjuna said:

You who know the world, take gain and loss,
Or bliss and pain, or kind words and abuse,
Or praise and blame—these eight mundane concerns—
Make them the same, and don’t disturb your mind.

These eight ordinary concerns, not to speak of others, seem to stain even those who claim to be genuine Dharma practitioners without their noticing, so it is very important to remain thoroughly attentive.

Moreover, there are six mistaken qualities we must avoid:

• mistaken patience, where we are unable to put up with difficulties in practicing the teachings but manage to put up with the most gruelling tasks in order to see through our projects for this life;
• mistaken aspiration, where we have no wish to practice the Dharma but are full of enthusiasm when it comes to achieving the eight ordinary concerns;
• mistaken enjoyment, where we have no taste for listening to the Dharma, reflecting on it, or meditating, but have plenty of appetite for material enjoyments;
• mistaken compassion, where we have no compassion when we or others perform negative actions, but feel compassion for people who are experiencing hardship for the sake of the Dharma;
• mistaken care, where we fail to introduce our dependents to the Dharma but help them succeed in this life;
• and mistaken rejoicing, where rather than meditate on joy with regard to people performing positive actions, we are delighted when our enemies meet with difficulties.

If we are always able to take the lowest seat, there will be no way for pride and jealousy to creep in. And as long as pride does not arise, obstacles cannot occur. But the moment we start to feel proud and think, “Even my teacher is no better than I am,” “Other practitioners do not know as much as I do,” and so on, obstacles will happen.

~ Dudjom Rinpoche in, A Torch Lighting the Way to Freedom

FB: https://www.facebook.com/felicedahlia/
© Chân Minh ( བསྟན་འཛིན་སྣང་གསལ་) dịch Việt ngữ

“Trong chuyến thăm một đại tự viện ở Tây Ban Nha, tôi gặp một thầy tu dòng thánh Benedict. Tôi hỏi vị đó loại thiền quán...
12/25/2025

“Trong chuyến thăm một đại tự viện ở Tây Ban Nha, tôi gặp một thầy tu dòng thánh Benedict. Tôi hỏi vị đó loại thiền quán nào vị đó thực hành trong những năm độc tu. Câu trả lời thật đơn giản: “Yêu thương. Yêu thương. Yêu thương.”

Thật tuyệt vời … trong tất cả những năm độc tu đó, ngài ấy chỉ thiền quán yêu thương. Và không chỉ đơn thuần là lời nói. Trong mắt ngài, tôi nhìn thấy hiển hiện rõ ràng tình yêu thương và sự thực hành tâm linh sâu sắc.

Lần gặp này giúp tôi sinh khởi lòng sùng mộ chân thành với truyền thống Cơ Đốc Giáo, và khả năng làm ra những con người với lòng từ như thế. Tôi tin rằng mục đích của các tôn giáo lớn không phải là xây những điện thờ hoành tráng bên ngoài, mà là tạo những điện thờ của từ bi và lòng trắc ẩn bên trong mỗi trái tim.

~~~ Đức Đa Lai La Ma , Tâm Từ

———
“On a visit to a great monastery in Spain, I met a Benedictine monk. I asked him what kind of contemplation he had practiced during his years of solitude. His answer was simple: “Love, love, love.”

How wonderful! ...during all those years he meditated simply on love. And he was not meditating on just the word. When I looked into his eyes, I saw evidence of profound spirituality and love.

This encounter helped me develop a genuine reverence for the Christian tradition and its capacity to create people of such goodness. I believe the purpose of all the major religious traditions is not to construct big temples on the outside, but to create temples of goodness and compassion inside, in our hearts.”

~~~ The Dalai Lama, The Good Heart

FB: https://www.facebook.com/felicedahlia/
© Chân Minh ( བསྟན་འཛིན་སྣང་གསལ་) dịch Việt ngữ

CÔNG ĐỨC VÀ PHƯỚC ĐỨC .~~~ Hòa Thượng Thích Thông Phương.Trích trong : Giải Thích Công Đức Tịnh Độ. (Kinh Pháp Bảo Đàn -...
08/24/2025

CÔNG ĐỨC VÀ PHƯỚC ĐỨC .
~~~ Hòa Thượng Thích Thông Phương.

Trích trong : Giải Thích Công Đức Tịnh Độ. (Kinh Pháp Bảo Đàn - Tào Khê Nguyên Bản giảng ký - Tập I)

Lưu ý: 🔸: chánh văn. 🔹 HT bình giảng

🔸 “Ngày kế, Vi Thích sử sắm sửa đại hội trai cúng dường Sư. Trai xong, Thích sử thỉnh Sư thăng tòa, ông cùng với quan liêu, tín chúng thành kính lễ bái, thưa hỏi:
- Đệ tử nghe Hòa thượng thuyết pháp thật không thể nghĩ bàn. Nay có chút nghi, mong Ngài đại từ bi giải thích cho.
Sư bảo:
- Có nghi hãy hỏi, tôi sẽ nói cho nghe.
Vi Công thưa:
- Pháp do Hòa thượng nói có phải là tông chỉ của Đại sư Đạt-ma chăng?
Sư đáp:
- Phải.
Ông thưa:
- Đệ tử nghe Ngài Đạt-ma khi mới đến giáo hóa vua Lương Võ Đế, vua hỏi: “Trẫm một đời cất chùa, độ Tăng, bố thí, sắm trai, cúng dường, có công đức gì?”. Ngài Đạt-ma đáp: “Thật không công đức”. Đệ tử chưa thông suốt lý này, mong Hòa thượng nói cho.”

🔹Qua ngày kế, Vi Thích sử lại thỉnh Lục Tổ cúng dường, sau khi thọ trai xong, ông thưa hỏi thêm về những điều còn nghi lâu nay.
Việc ông nghi liên quan đến Tổ Bồ-đề Đạt-ma nên trước khi hỏi, ông thưa: “Pháp do Hòa Thượng nói có phải là tông chỉ của Đại sư Đạt-ma chăng?” Bởi nếu pháp của Lục Tổ dạy không thuộc về Tông chỉ của Ngài Đạt-ma thì đâu dính dáng gì.
Sau khi Lục Tổ xác nhận: “Phải!”, ông mới thưa hỏi về việc vua Lương Võ Đế hỏi Tổ Đạt-ma.

Lương Võ Đế là ông vua Phật tử, rất mộ đạo. Vua từng giảng kinh Phóng Quang Bát Nhã, đăng tòa thuyết pháp giống như vị tăng. Gặp Tổ Bồ-đề Đạt-ma, vua hỏi những việc mình đã làm như cất chùa, độ Tăng, bố thí, sắm trai cúng dường, những việc làm đó có công đức gì? Vua nghĩ làm vậy có công đức lớn, không ngờ Tổ Bồ-đề Đạt-ma đáp: “Thật không công đức”.
Vua nghe vậy không hiểu được.

Vi Thích sử cũng thắc mắc ý nghĩa đó, nếu chúng ta không học kỹ thì cũng nghi như thế.

🔸 “Sư bảo:
- Thật không công đức, chớ nghi ngờ lời của bậc Tiên Thánh.
Võ Đế tâm tà, chẳng biết chánh pháp.
Cất chùa, độ Tăng, bố thí, sắm trai gọi là cầu phước, chẳng thể đem phước cho là công đức.
Công đức là ở trong Pháp thân, chẳng ở tu phước.”

🔹 Lục Tổ dạy rõ, theo cái nhìn của Tổ Bồ-đề Đạt-ma thì những việc làm của vua Lương Võ Đế thuộc về những việc làm phước đức bên ngoài, chưa thể nói là công đức.

Đức mà phải có công, không thuộc về việc làm bên ngoài, việc làm hữu vi, phước hữu lậu.
Nếu chấp vào đó thì cũng ở trong cái sanh diệt, có phước đời sau hưởng phước, hết phước là rớt xuống lại, chưa phải thật công đức.

➡️ Công đức cần phải thấy trở lại trong Pháp thân, không phải trên hình tướng tu phước bên ngoài, tức phải tu tập trong nội tâm.
Đây không phải bác bỏ những việc làm đó, mà Tổ phá chấp cho vua Lương để vua tiến sâu thêm vào đạo.

🔸 “Sư lại nói:
- Thấy tánh là công, bình đẳng là đức.
Niệm niệm không ngưng trệ, thường thấy bản tánh, chân thật diệu dụng, gọi là công đức.
Bên trong tâm khiêm hạ là công, bên ngoài thực hành lễ kính là đức. Tự tánh dựng lập muôn pháp là công, tâm thể lìa niệm là đức. Chẳng lìa tự tánh là công, ứng dụng không nhiễm là đức.
Nếu tìm công đức pháp thân, chỉ nương theo đây làm, đó là công đức chân thật.

Nếu người tu công đức, tâm chẳng khinh ai, thường sống cung kính hết thảy. Tâm thường khinh người, chẳng đoạn dứt ngô ngã, tức tự không công. Tự tánh hư dối chẳng thật, tức tự không đức. Vì ngô ngã tự đại thì thường khinh tất cả.

Này thiện tri thức! Niệm niệm không gián đoạn là công, tâm thực hành bình đẳng là đức. Tự tu tánh là công, tự tu thân là đức.

Này thiện tri thức! Công đức cần thấy trong tự tánh, chẳng phải từ bố thí cúng dường mà cầu. Do đó, công đức và phước đức riêng khác. Võ Đế chẳng biết lý thật, chẳng phải Tổ sư ta có lỗi.”

🔹 Lục Tổ nói rõ:
➡️ “Thấy tánh là công, bình đẳng là đức”.

Công đức phải thực hành trong tự tâm mới được.
Công này không phải tạo tác bên ngoài mà phải Soi Lại Chính Mình.
Đức này không phải thấy bên ngoài mà phải thấy ngay nơi tâm bình đẳng, lìa phân biệt đây-kia, không nghiêng lệch.
Công đức hiển bày nơi tự tánh, đâu thể tìm ở hình thức bên ngoài.

➡️ “Niệm niệm không ngưng trệ, thường thấy bản tánh, chân thật diệu dụng gọi là công đức”.

Tức niệm niệm đều thông suốt, không dính mắc, mà thường sáng tỏ, nhận thấy rõ ràng bản tánh không mê mờ, không lầm lẫn, từ đó mới có cái chân thật diệu dụng, làm tất cả mà tự tại giải thoát, không dính mắc.

Công đức như thế mới thật là công đức vượt thoát khỏi thế gian, đáng tín ngưỡng, gọi là công đức chân thật.

➡️ “Bên trong tâm khiêm hạ là công, bên ngoài thực thành lễ kính là đức”.

Công đức này cũng không lìa tự tâm mà riêng có.

➡️ “Tự tánh dựng lập muôn pháp là công, tâm thể lìa niệm là đức”.

Tức không theo niệm sinh diệt, công đức này cũng phải thấy ở nơi tự tánh.

➡️ “Chẳng lìa tự tánh là công, ứng dụng không nhiễm là đức”.

Công đức này giúp ta sáng tỏ, tự tánh được hiển bày.

➡️ “Nếu tìm công đức Pháp thân, chỉ nương theo đây mà làm, đó là công đức chân thật”.

Đây gọi là công đức Pháp thân. Phước hữu vi hay phước hữu lậu thuộc về phước sanh diệt, không thể sánh kịp được với công đức này.

➡️ “Nếu người tu công đức, tâm chẳng khinh ai, thường sống cung kính hết thảy.
Tâm thường khinh người, chẳng đoạn dứt ngô ngã tức tự không công, tự tánh hư dối chẳng thật tức tự công đức, vì ngô ngã tự đại thì thường khinh tất cả”.

Nếu tâm khinh người thì sanh cái ngã.

🔺Làm lành mà sanh ngã thì tự làm mất công, cũng bỏ mất đức, che mờ tự tánh sáng suốt không hiển bày được, người tu công đức chân thật phải tránh.

Thí dụ, bố thí cúng dường nhiều rồi chấp vào đó, thấy người kia làm không bằng ta thì khinh, đó là sanh tâm ngô ngã làm che mờ tự tánh sáng suốt.

🔺Lục Tổ dạy kỹ để chúng ta làm lành mà không chấp.
Nếu bố thí cúng dường mà không chấp vào đó, luôn vun bồi, hướng về tự tánh hay hướng về Phật đạo, thì những việc làm đó chuyển thành công đức.

🔺Làm nhưng không chấp chứ không phải bảo đừng làm.

➡️ “Niệm niệm không gián đoạn là công, tâm thực hành ngay thật là đức; Tự tu tánh là công, tự tu thân là đức”.

Tức tu tập, không để niệm xen hở mà tạp niệm xen vào, tâm luôn thực hành ngay thẳng, chân thật, sẽ hiển bày đức tốt ở nơi tâm chúng ta.

Công đức chân thật là phải soi lại nơi tự tánh của chính mình để thấy.

Ngài nói rõ:
🔸 “Công đức cần thấy trong tự tánh, chẳng phải từ bố thí cúng dường mà cầu. Do đó công đức và phước đức riêng khác”.

🔹 Ngài nói để ngăn ngừa người chấp vào việc lành, biết vậy thì việc làm của chúng ta càng tăng trưởng phước đức, có thể chuyển phước đức thành công đức.

🌈 Tức là làm những việc đó, biết soi trở về tự tánh để phát huy công đức sáng tỏ nơi chính mình khiến lợi ích không thể nghĩ bàn.

~~~ Hòa Thượng Thích Thông Phương .

Trích trong : Giải Thích Công Đức Tịnh Độ. (Kinh Pháp Bảo Đàn - Tào Khê Nguyên Bản giảng ký - Tập I)

FB: https://www.facebook.com/felicedahlia/

🔶️ NGUYỆN – NGUYỆN RIẾT SẼ CÓ NGUYỆN LỰC.~~~ Sư Giác Nguyên giảngTrong bộ A-tỳ-đàm số 4, của 7 bộ A-tỳ-đàm có tên là Pug...
08/23/2025

🔶️ NGUYỆN – NGUYỆN RIẾT SẼ CÓ NGUYỆN LỰC.
~~~ Sư Giác Nguyên giảng

Trong bộ A-tỳ-đàm số 4, của 7 bộ A-tỳ-đàm có tên là Puggalapannatti.

Phật dạy có bốn thứ xoài chín:
- Ngoài sống trong chín;
Ngoài chín trong sống;
Trong ngoài đều sống;
Trong ngoài đều chín.

Cũng vậy, có bốn hạng người tương tự:

- Đạo phong cốt cách trang nghiêm, mà mù tịt về 4 Đế.
- Vẻ ngoài không có gì xuất sắc, nhưng lại am tường 4 Đế.
- Vẻ ngoài tầm thường mà nội hàm cũng không ra gì.
- Đạo phong ngon lành, Trí tuệ về 4 Đế xuất sắc.

Chúng ta phải nguyện, nguyện đời đời xin được gặp Minh Sư Thiện Hữu, đừng bị dối lừa bởi vẻ ngoài ngon lành hấp dẫn, mà bên trong chua loét...

Nếu có người hỏi tôi thời này là thời mạt Pháp, mình nên tu Pháp môn gì, người thì kêu tu Pháp môn niệm Phật, người thì kêu tu rải Tâm từ, Tâm bi, Tu niệm hơi thở...

Nhưng riêng tôi - người đang hầu chuyện cùng quý vị - nếu tôi thấy các vị không có thời giờ nhiều, và cái đầu nhớ dở hiểu chậm, tôi sẽ đề nghị Pháp môn: “Tu Nguyện”.

Quí vị có thể nghi ngờ sao chưa từng nghe Pháp môn này, nhưng nếu có một chút tin tôi thì nhớ rằng, không phải tôi chế ra, mà là sau bao nhiêu năm làm Thầy chùa và đọc Kinh điển tôi đã đúc kết.

Thay vì nguyện Tam Bảo, chư Thiên, Long Thần Hộ Pháp, Thiên Long Bát Bộ… thay vì đọc 500 Hồng danh, quí vị viết ra và đọc chừng 50 câu nguyện.

🔹️ Đời đời kiếp kiếp hễ có Hiền Thánh thì con xin được gặp.

🔹️ Đời đời kiếp kiếp khi con muốn làm thiện, thì nghèo cách mấy, dốt cách mấy, cũng có điều kiện.

🔹️ Đời đời kiếp kiếp khi con có lòng làm ác, thì đừng cho có điều kiện.

🔹️ Đời đời kiếp kiếp mong cho con được gặp Minh Sư Thiện Hữu.

🔹️ Đời đời kiếp kiếp xin cho con đừng bị dối lừa bởi cái vẻ bề ngoài ngon lành, hấp dẫn dầu về tình cảm hay là về đạo học.

🔹️ Đời đời kiếp kiếp con xin được sớm nhận ra cái gì là cốt lõi, cái gì là cành lá...
….....

Phải là đọc tới đâu hiểu tới đó...
Ngày ngày trước khi đi làm tắm rửa sạch sẽ, chải tóc gội đầu, đánh phấn thoa son xong quỳ trước bàn Phật, đọc suốt hai ba chục câu như vậy...

Và lúc nào cũng phải có câu này:

“Con sống bao lâu không quan trọng, chỉ xin được chết sạch, chết yên và chết tỉnh.”

▪︎ Chết sạch là đừng hôi hám, tanh tưởi, khổ mình phiền người.
▪︎ Chết yên là đừng giãy giụa, đau đớn vì nhức mỏi.
▪︎ Chết tỉnh là đừng hôn mê sờ soạng, mê sảng nói bậy nói bạ.

Viết xuống đàng hoàng những câu nguyện đó.

Theo A-Tỳ-Đàm, mỗi một câu nguyện như vậy là một lần tác ý (Cetana), quan trọng lắm.

Cetana này được lặp đi, lặp lại nhiều lần với lòng thiết tha, da diết lâu ngày thì từ chỗ cố ý sẽ trở thành tâm nguyện (adhitthana – Nguyện Lực).

Sau vài tháng, vài năm sẽ có sức mạnh kinh khủng. Các vị phải tin chuyện đó. Tôi xin chịu trách nhiệm về Pháp môn ‘Tu Nguyện’ này.

Quý vị có thời giờ tu Tứ Niệm Xứ (Thân, Thọ, Tâm, Pháp) thì tôi không bàn tới, đó là bắt buộc rồi.
Nhưng ngoài Tứ Niệm Xứ mà quí vị còn muốn hành trì thứ gì khác nữa, thì mỗi ngày cứ làm một bài Nguyện như vậy, sáng trưa chiều tối.

Tôi bảo đảm với quí vị - Không phải bảo đảm theo kiểu "sơn đông mãi võ", bán thuốc dỏm rồi bảo đảm, mà quí vị hãy tự hỏi lòng mình có đúng vậy không - Cái gì lặp đi, lặp lại nhiều lần, thì tự nhiên sẽ có một sức mạnh rất lớn.

Namo Buddhassa 🙏🏻
Namo Dhammassa 🙏🏻
Namo Sanghassa 🙏🏻

Idaṃ me puññaṃ āsavakkhayā’vahaṃ hotu.
Phước lành này của chúng con, nguyện đoạn trừ các lậu hoặc - trầm luân.

Idaṃ me puññaṃ nibbānassa paccayo hotu.
Phước lành này của chúng con, nguyện là duyên thành tựu Niết bàn.

Mama puññabhāgaṃ sabbasattānaṃ bhājemi;
Phần phước của chúng con, xin chia đều đến tất cả sinh linh.

Te sabbe me samaṃ puññabhāgaṃ labhantu.
Mong tất cả hãy thọ nhận phần phước ấy được đồng đều nhau cả thảy.
🙏🏻🙏🏻🙏🏻

FB: https://www.facebook.com/felicedahlia/

KHÔNG ĐẾN KHÔNG ĐI     ~~~ Cố Thiền Sư Thích Nhất Hạnh ( 1926- 2022).Đối với đa số, chúng ta đau khổ nhiều nhất vì ý niệ...
08/15/2025

KHÔNG ĐẾN KHÔNG ĐI
~~~ Cố Thiền Sư Thích Nhất Hạnh ( 1926- 2022).

Đối với đa số, chúng ta đau khổ nhiều nhất vì ý niệm đến – đi.

Chúng ta nghĩ rằng những người thương của ta đã đến từ một nơi nào đó và nay sẽ đi tới một nơi nào đó.

Nhưng bản chất của thực tại là không đến cũng không đi.

Chúng ta không từ đâu tới mà cũng không đi tới đâu cả.

Khi nhân duyên đầy đủ thì ta biểu hiện, khi nhân duyên không còn đầy đủ thì chúng ta không biểu hiện.

Điều đó không có nghĩa là chúng ta không hiện hữu. Giống như khi làn sóng phát thanh không phát ra âm thanh, thì chúng chỉ không biểu hiện mà thôi.

Không phải chỉ có các ý niệm đến-đi mới không diễn bày được thực tại, mà các ý niệm hiện hữu hay không hiện hữu cũng vậy.

Chúng ta học được câu này trong kinh Bát Nhã:

“Xá lợi tử nghe đây
Thể mọi pháp đều không
Không sinh cũng không diệt
Không thêm cũng không bớt…”

Ý nghĩa chữ Không này rất quan trọng.

Nó có nghĩa là mọi sự việc đều trống rỗng, không có tự tánh riêng biệt. Không có cái gì có tự tánh độc lập, không có cái gì tự nó hiện hữu.

Khi nhìn sâu vào mọi sự, mọi vật ta sẽ thấy rằng tất cả, kể luôn ta trong đó, đều là những hợp thể.

Ta được làm bằng các phần tử không phải ta.

Ta được là hợp thể của cha mẹ, ông bà, cơ thể, cảm thọ, nhận thức, đất, mặt trời và vô số các yếu tố không phải ta.

Tất cả những thứ đó tùy theo nhân duyên.

Ta thấy rằng tất cả những thứ đó đã, đang hay sẽ biểu hiện đều có tương quan và liên hệ mật thiết với nhau.

Những gì biểu hiện ra mà ta nhìn thấy, chỉ là một phần của bao thứ khác, của các điều kiện đầy đủ khiến cho nó có mặt.

Mọi sự mọi vật đều không được sinh ra hay bị mất đi vì chúng luôn luôn ở trong tiến trình liên tục biểu hiện.

Chúng ta có thể thông minh để hiểu được chuyện này. Nhưng hiểu bằng trí óc thôi không đủ.

Thực sự hiểu điều này, ta sẽ hết sợ hãi. Ta sẽ được giác ngộ và sống với cái nhìn tương tức (Inter-being).

Chúng ta phải thực tập nhìn thật sâu như thế trong đời sống hàng ngày để nuôi dưỡng sự hiểu biết về không sinh không diệt.

Như thế, ta có thể thực chứng được sự mầu nhiệm của sự vô úy, không sợ hãi.

Nếu chúng ta nói tới vấn đề tương tức tương nhập như một lý thuyết thì không ích lợi gì hết.

Ta nên đặt câu hỏi: “Tờ giấy này, mi từ đâu tới? Giấy là cái gì? và mi tới đây làm gì? Giấy sẽ đi đâu?”

Ta cũng hỏi ngọn lửa (đang dốt tờ giấy): “Lửa ơi, mi từ đâu tới và mi sẽ đi đâu?”

Hãy lắng nghe chúng trả lời. Ngọn lửa, tờ giấy đang trả lời bằng sự có mặt của chúng. Chúng ta chỉ cần nhìn sâu thì sẽ nghe được câu trả lời của nó.

Ngọn lửa trả lời: “Tôi không tới từ đâu cả.”

Đó cũng là câu trả lời của cây hoa đào Nhật bổn. Chúng tôi (hai đợt hoa) không giống mà cũng không khác nhau.

Hoa không tới từ đâu và cũng không đi đâu hết.

Khi mất một em bé, chúng ta không nên buồn.

Đó chỉ là vì lúc ấy chưa đủ nhân duyên cho nên em chưa biểu hiện ra ở thời điểm đó mà thôi, Em sẽ trở lại.

~~~ Cố Thiền Sư Thích Nhất Hạnh ( 1926- 2022).

Trích trong: Không diệt, không sinh, đừng sợ hãi.

Hình cố Thiền Sư Thích Nhất Hạnh năm 1973

FB: https://www.facebook.com/felicedahlia/

Address

Lynchburg, VA

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when One's Own Fate posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share