Đạt ma sư tổ

Đạt ma sư tổ Đạt ma sư tổ, chuyên cung cấp tượng gỗ, tượng đạt ma sư tổ, tượng gỗ...

Chờ ngày vía Thần tài để mua vàng 😊
17/02/2026

Chờ ngày vía Thần tài để mua vàng 😊

17/02/2026
LỄ GIỖ TỔ SƯ BỒ - ĐỀ - ĐẠT - MA (9/10 ÂL)I. THÂN THẾTổ Bồ Đề Đạt Ma, người nước Nam Ấn thuộc dòng Sát Đế Lợi, Ngài sinh ...
29/11/2025

LỄ GIỖ TỔ SƯ BỒ - ĐỀ - ĐẠT - MA (9/10 ÂL)

I. THÂN THẾ

Tổ Bồ Đề Đạt Ma, người nước Nam Ấn thuộc dòng Sát Đế Lợi, Ngài sinh vào tiền bán thế kỷ thứ V (440). Cha Ngài là vua Hương Chí (Simhavarman II). Mẹ là hoàng hậu Simhavarman II. Ngài có hai anh là: Anh cả là Nguyệt Tịnh Đa La, anh hai là Công Đức Đa La và thứ ba là Ngài có tên là Bồ Đề Đa La. Nhà vua là người thuộc đạo Hindu. Sau gặp Tổ Bát Nhã Đa La mới chuyển qua đạo Phật.

II. THỜI NIÊN THIẾU

Thuở nhỏ Ngài có đặc tài hùng biện và có chí thoát trần siêu việt. Vua cha là Hương Chí, tuy là người có đạo Hindu nhưng đã gặp Tổ Bát Nhã Đa La - là vị Tổ đời thứ 27 của Ấn Độ - hướng dẫn cho ba vị vương tử về Phật pháp trong một cơ duyên đặc biệt nên nhà vua phát lòng ngưỡng mộ Phật pháp. Trong duyên này hoàng tử Bồ Đề Đa La được gặp Tổ Bát Nhã Đa La.

Sau khóa học, nhà vua đã thỉnh Tổ cúng dường. Trong lễ cúng dường này có một viên ngọc rất quý. Tổ dùng viên ngọc này hỏi ba vị vương tử. Tổ hỏi:

- Ở đời có vật nào quý báu bằng hạt châu này không?

Vương tử cả là Nguyệt Tịnh Đa La thưa: - Hạt châu là quý tột, ở đời không có gì hơn nó, chẳng phải trong nhà vua thì làm gì có hạt châu này.

Vương tử thứ hai là Công Đức Đa La cùng đồng ý với vương huynh.

Riêng Ngài thưa:

- Châu này là báu của thế gian chưa đủ làm tột, trong các thứ báu chỉ có Pháp bảo là tột.

Đây là ánh sáng của thế gian, trong các thứ ánh sáng chỉ có ánh sáng Trí Huệ Bát Nhã là tột. Châu này là trong sạch của thế gian, trong các thứ trong sạch chỉ TÂM trong sạch là trên hết.

Nhưng ánh sáng của hạt châu này không thể tự chiếu, cần nhờ ánh sáng Trí Huệ mới biết được nó. Đã biện rõ mới biết là châu, đã biết là châu mới hiểu cái quý báu của nó. Nếu hiểu cái quý báu của châu, thì quý mà không biết là quý. Nếu biện rõ nó là châu, thì nó châu mà tự chẳng biết châu. Châu mà tự chẳng biết châu, cần nhờ Trí châu mới biện được thế châu. Báu mà chẳng biết báu, cần nhờ Trí bảo mới rõ Pháp bảo. Nhưng mà, thầy tôi có đạo thì báu kia liền hiện. Chúng sanh có đạo thì TÂM báu cũng thế.

Tổ khen ngợi tài biện luận của Ngài. Tổ hỏi thêm:

- Trong các vật, vật gì Không tướng?

Thưa:

- Trong các vật, “chẳng khởi” là Không tướng.

- Trong các vật, vật gì là tối cao?

Thưa:

- Trong các vật, “Nhơn Ngã” là tối cao.

- Trong các vật, vật gì là tối đại?

Thưa:

- Trong các vật, “Pháp TÁNH” là tối đại.

Tổ thầm vui biết Ngài là đại pháp khí sẽ nối dõi cho Tổ sau này.

III. THỜI THANH NIÊN

Vua Hương Chí thấy các con mình đã lớn khôn, văn võ toàn tài. Những võ nghệ của giống dân Tamil đã được truyền thụ cho các con trai. Nhà vua rất lấy làm đắc ý, nhất là với người con út là hoàng tử thứ 3 - Bồ Đề Đa La. Nhà vua tấn phong ngôi vị Thái tử cho Bồ Đề Đa La để chuẩn bị lên ngai vàng làm vua. Nhà vua lại muốn lập Thái tử phi (vợ Thái tử) cho Bồ Đề Đa La. Tuy nhiên qua bao người đẹp được tuyển chọn, Bồ Đề Đa La vẫn lạnh lùng không đoái hoài gì đến hương sắc mỹ nữ. Bồ Đề Đa La chỉ một lòng hướng về giáo pháp Phật Đà. Dù rằng Bồ Đề Đa La là đứa con chí hiếu nhưng mà vẫn không thể nghe lời phụ hoàng để lập Thái tử phi. Thái tử Bồ Đề Đa La đã có con đường riêng của mình là hướng về Phật Đạo. Sau đó nhà vua băng hà, hai anh khóc than bi lụy, riêng thái tử Bồ Đề Đa La ngồi im lặng nhập định bên linh cữu phụ hoàng suốt 7 ngày để đưa tiễn phụ hoàng về nơi chín suối.

IV. XUẤT GIA
An táng vua cha xong, thái tử Bồ Đề Đa La xin phép mẫu hậu và hai vương huynh, nhường ngôi cho anh và được theo Tổ Bát Nhã Đa La xuất gia. Tổ hoan hỷ làm lễ thế phát xuất gia và truyền giới cụ túc. Tổ bảo:

- Thái tử đối các Pháp đều thông suốt nên đổi hiệu là “Bồ Đề Đạt Ma”. Từ đây ngài Bồ Đề Đạt Ma luôn hầu hạ bên Tổ Bát Nhã Đa La.

Sau thời gian học tập huân tu, ngài Bồ Đề Đạt Ma đã thể hiện đời sống tinh tấn hành đạo đúng mức, trí tuệ đã phát triển tốt đẹp. Tổ trông rõ trình độ khả năng của Ngài rất xứng đáng được trao Tổ vị.

Một hôm, Tổ gọi Ngài đến dạy:

- Đại Pháp nhãn tạng của Như Lai lần lượt truyền trao, nay Thầy trao cho con, con hãy khéo truyền rộng ra chớ cho đoạn dứt.

Hãy nghe kệ này:

Tâm địa sanh chư chủng

Nhơn sự phục sanh lý

Quả mãn Bồ Đề viên

Hoa khai thế giới khởi.

Dịch:

Đất TÂM sanh các giống

Nhơn sự lại sanh lý

Quả đầy Bồ Đề tròn

Hoa nở thế giới sanh.

Tổ lại dặn dò:

- Con giờ tạm giáo hóa ở nước này. Sau đó con hãy qua Trung Hoa mà hoằng hóa, đó mới thật là nhân duyên lớn. Nhưng hãy đợi ta diệt độ 60 năm sau sẽ đi. Nếu đi sớm sau sẽ có việc không tốt.

Những điều kiết hung về sự giáo hóa ở Trung Hoa sau này, Ngài đều được Tổ chỉ dạy. Tổ dùng những lời sấm ký tiên đoán sự kiết hung về vận mệnh Phật pháp ở Trung Hoa, nói có hơn 10 bài kệ.

Truyền Pháp, dặn dò xong Tổ hiện thần biến và thị tịch.

Từ đây Ngài chính thức là vị Tổ đời thứ 28 của Ấn Độ, được truyền nối từ Tổ thứ nhất là Tổ Ca Diếp.

V. HOẰNG HOÁA Trong nước Theo lời dặn dò của Tổ thứ 27, Tổ Bồ Đề Đạt Ma ở tại nước nhà hoằng hóa. Tổ cùng với người huynh đệ đồng sư là Phật Đại Tiên chung sức giáo hóa. Người đương thời gọi hai

Ngài là “mở cửa cam lồ”. Nhưng sau đó môn đồ của Phật Đại Tiên chia làm sáu tông:

1. Hữu tướng 3. Định huệ 5. Vô đắc

2. Vô tướng 4.Giới hạnh 6. Tịch tịnh

Sáu tông này tranh nhau truyền bá. Tổ thấy sự chia ly ấy, ngại cho Chánh Pháp suy vi. Vì thế, Ngài dùng phương tiện cảm hóa họ hồi đầu quay về Chánh Pháp.

Vua Nguyệt Tịnh (vương huynh Tổ) băng hà, con là Thái tử Dị Kiến nối ngôi không bao lâu tin theo tà thuyết, bài bác Phật pháp. Tổ sai đệ tử là Ba La Đề đến cung vua để nhiếp hóa. Sau khi được cải tà quy chánh, vua Dị Kiến hỏi ra mới biết Ba La Đề là đệ tử của chú mình. Nhà vua cho thỉnh Tổ về cung giáo hóa.

Nơi cung nội giáo hóa một thời gian, Tổ đã đem lại lòng chánh tín cho bao người trong cửa khuyết, và đã gieo duyên lành cho khắp quan dân sĩ thứ. Phật pháp nơi kinh đô lại được trùng hưng.

Trong thời gian chờ đợi 60 năm để sang Trung Hoa Tổ đã chu du khắp nước Ấn Độ từ Nam chí Bắc. Ngài đã đến miền Bắc để viếng lễ thánh tích của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Từ nước Tamil của Ngài đến xứ Nepal của Đức Phật cách nhau khoảng 3.000 cây số. Ngài đã lễ viếng tất cả thánh tích của Phật Đà, cả những tháp xá lợi của Đức Phật. Tổ cũng đã gặp được những kỳ tích ở nơi hang động Ajanta có sau thời Phật khoảng 200 năm. Hang động Ajanta và hang động Ellora, thuộc bang Maharashtra, là những nơi Ngài có được những kỳ duyên và gặp được những bậc thế ngoại kỳ nhân để học hỏi thêm những bí cấp về Phật pháp cũng như về võ thuật, y thuật, thiên văn, địa lý, cả công xảo minh cùng thanh minh (ngôn ngữ học)… Ngài trau dồi đủ cả ngũ minh(1). Ngài trở thành một con người có nhiều công năng siêu việt.

______________________________

(1) – Ngũ minh:

1. Nội minh (tất cả môn Phật pháp)

2. Thanh minh (ngôn ngữ học)

3. Y phương minh (về thuốc, y học)

4. Nhân minh (các phương pháp luận)

5. Công xảo minh (các thứ nghề nghiệp)

B. Ra nước ngoài (sang Trung Hoa)
Khi Tổ thấy cơ duyên ra nước ngoài đã đến, Tổ đem lời huyền ký, dặn dò của Tổ Bát Nhã Đa La thuật lại cho vua biết. Tổ quyết định sang Trung Hoa. Nhà vua nghe qua không còn lời gì dám cản ngăn, đành để Tổ thực hiện theo ý nguyện. Nhà vua chuẩn bị sắp xếp cho chuyến ly hương hoằng hóa của Tổ thật chu đáo.Vua chuẩn bị văn thư gửi cho triều đình Trung Hoa về chuyến đi của Tổ xem như là mối bang giao hữu nghị đặc biệt.

Từ cung thành của nước Tamil ra đến bờ biển Chennai khoảng 40 cây số. Đây là hải cảng thời bấy giờ, ngang với nước Sri Lanka, nằm trong vịnh Bengal của Ấn Độ Dương. Tổ lên thuyền từ đây (521). Đây là thuyền của triều đình chuẩn bị cho Tổ. Trên thuyền có hoa tiêu giỏi, có thủy thủ rành nghề nên chuyến đi rất là thuận lợi. Đường đi này đi qua Thái Bình Dương cập theo nước Việt Nam ngày xưa, có thể qua eo biển miền Trung của Việt Nam (thuở ấy miền Nam Việt Nam chưa có, còn là biển cả). Thuyền đi được êm xuôi, sau 3 năm trên biển cả thuyền qua khỏi hải phận của Việt Nam rồi đến biển Trung Hoa vào Quảng Châu và cập bến nơi này. Lúc bấy giờ vào triều đại nhà Lương niên hiệu Phổ Thông năm đầu (524). Ngày ấy là 21 tháng 9 năm Canh Tý.

Thích sử tỉnh này ra đón tiếp Tổ và dâng sớ về triều tâu cùng vua Lương Võ Đế.

VI. Ở TRUNG HOA.
Vua Lương Võ Đế có lòng mộ đạo từ lâu. Nghe Tổ từ Ấn đến một lòng hâm mộ bèn xuống chiếu chỉ, sai sứ đến tận nơi thỉnh Tổ về kinh đô Kim Lăng.

Tổ đã được vua Lương tiếp đón trong nội cung với tính cách là quốc khách và cũng là một đạo sư. Vua Võ Đế nói:

- Trẫm từ lên ngôi đến nay thường cất chùa (72 ngôi), chép Kinh, độ người làm Tăng – Ni, không biết bao nhiêu. Như vậy có công đức gì chăng?

Tổ đáp:

- Đều không có công đức.

Vua:

- Tại sao không có công đức?

Tổ:

- Bởi vì những việc ấy là nhơn hữu lậu, chỉ có quả báo nhỏ ở cõi người, cõi trời, như bóng theo hình, tuy có mà chẳng thật.

Vua:

- Thế nào là công đức chân thật?

Tổ đáp:

- Trí thanh tịnh tròn mầu thể tự trong lặng, công đức như thế chẳng do thế gian mà cầu.

Vua:

- Thế nào là “Thánh đế đệ nhất nghĩa”?

Tổ đáp:

- Rỗng rang không Thánh.

Vua:

- Đối Trẫm là ai?

Tổ đáp:

- KHÔNG BIẾT.

Vua Lương Võ Đế không lãnh ngộ được, ông không được vui, lui về cung nghỉ. Tổ biết căn cơ chẳng hợp, tạm lưu lại đây ít hôm.

Đến ngày 19, Tổ bỏ vua Lương sang sông qua Giang Bắc. Khi nhập cảnh nước Ngụy,

Ngài đi đến Lạc Dương nhằm đời hậu Ngụy vua Hiếu Minh Đế, niên hiệu Chánh Quang năm đầu ngày 23 tháng 11.

Tổ dừng lại tại chùa Thiếu Lâm ở Tung Sơn. Ở trong hang động (3x4m) ở lưng chừng núi trọn ngày ngồi xoay mặt vào vách đá im lặng. Tăng chúng đều không hiểu được. Người đời gọi là “Thầy Bà La Môn ngồi nhìn vách” (Bích quán Bà La Môn).

Có vị Tăng tên Thần Quang, học thông các sách, giỏi lý diệu huyền, nghe danh Tổ tìm đến yết kiến. Thần Quang đã đủ lễ nghi mà Tổ vẫn ngồi lặng yên ngó mặt vào vách đá không màng đến. Quang nghĩ: “Người xưa cầu đạo không tiếc thân mạng, nay ta chưa được một trong muôn phần của các Ngài”. Hôm ấy nhằm tiết mùa đông (mùng 9 tháng Chạp), ban đêm tuyết rơi lả tả, Thần Quang vẫn đứng yên ngoài tuyết chắp tay hướng về Tổ. Đến sáng tuyết ngập khỏi đầu gối mà gương mặt Thần Quang vẫn thản nhiên, Tổ thấy người có chí, xoay người hỏi:

- Ngươi đứng suốt đêm trong tuyết, ý muốn cầu việc gì?

Thần Quang thưa:

- Cúi mong Hòa Thượng từ bi mở cửa cam lồ, rộng độ chúng con.

- Diệu đạo vô thượng của chư Phật, dù nhiều kiếp tinh tấn, hay làm được việc khó nhẫn, còn không thể đến thay! Huống là dùng chút công lao nhỏ này mà cầu được Pháp chân thừa?

Thần Quang nghe dạy bèn lấy dao chặt cánh tay trái dâng trước Ngài để tỏ lòng thiết tha cầu đạo. Ngài biết đây là pháp khí, bèn dạy:

- Chư Phật lúc ban đầu cầu Đạo, vì Pháp quên thân, nay ngươi chặt cánh tay để trước Ta, Tâm cầu đạo cũng khá.

- Pháp ấn của chư Phật con có thể được nghe chăng?

- Pháp ấn của chư Phật không phải từ người khác mà được.

- Tâm con chưa an, xin thầy dạy pháp an Tâm.

- Ngươi đem Tâm ra đây, Ta an cho.

- Con tìm Tâm không thể được.

- Ta đã an Tâm cho ngươi rồi.

Thần Quang nhơn đây được khế ngộ.

Ngài liền đổi tên Thần Quang là Huệ Khả. (Trong hang động chỗ Tổ ngồi, trước mặt do năng lực của Ngài tỏa năng lượng vào vách đá mà tuyết không phủ được, tạo thành một bóng ảnh trên vách đá. Hang động này cách chùa Thiếu Lâm khoảng 3 cây số về phía trái chùa. Trong thời gian Tổ tọa thiền nơi đây suốt chín năm do công phu hành thiền phát huy khí công thượng thừa mà không phải ăn uống gì).

Từ đây kẻ Tăng người tục đua nhau đến yết kiến Ngài tiếng tăm vang dậy. Ngài trùng hưng lại ngôi chùa Thiếu Lâm Tự và thâu nhận đồ chúng. Vua Hiếu Minh Đế nước Ngụy sai sứ ba phen thỉnh Ngài, Ngài từ chối. Nhà vua càng kính trọng, sai sứ đem lễ vật đến cúng dường: một cây tích trượng, hai y kim tuyến, bình bát…

Ngài khước từ nhiều lần nhưng nhà vua cố quyết cúng dường, rốt cuộc Ngài phải nhận.

* * *
Mở cửa phương tiện, Ngài dùng bốn hạnh để giáo hóa môn đồ:

1. Báo oán hạnh 3. Vô sở cầu hạnh

2. Tùy duyên hạnh 4. Xứng pháp hạnh



Ở Trung Hoa mười hai năm, Ngài thấy cơ duyên đã đến, liền gọi đồ chúng hỏi:

- Giờ Ta trở về sắp đến, các ngươi mỗi người nên nói chỗ sở đắc của mình.

Đạo phó ra thưa:

- Theo chỗ thấy của con chẳng chấp văn tự, chẳng lìa văn tự, đây là dụng của Đạo.

Ngài bảo:

- Ngươi được phần da của Ta.

Bà Ni Tổng trì ra thưa:

- Nay chỗ hiểu của con, như Tổ A Nan thấy nước Phật A Súc, chỉ thấy một lần, không còn thấy lại.

Ngài bảo:

- Ngươi được phần thịt của Ta.

Đạo Dục ra thưa:

- Bốn đại vốn Không, Năm Ấm chẳng có, chỗ thấy của con không một Pháp có thể được.

Ngài bảo:

- Ngươi được phần xương của Ta.

Đến Huệ Khả bước ra đảnh lễ Ngài, rồi lui ra đứng yên lặng.

Ngài bảo:

- Ngươi được phần tủy của Ta.

Ngài gọi Huệ Khả đến dặn dò:

- Xưa Như Lai đem “Chánh Pháp nhãn tạng” trao cho Tổ Ca Diếp, lần lượt truyền đến Ta. Nay Ta đem trao lại cho ngươi, ngươi phải truyền trao chớ để dứt mất. Cùng trao cho ngươi y Tăng - già - lê và bát báu, để làm pháp tín. Mỗi thứ tiêu biểu cho mỗi việc, ngươi nên biết.

Huệ Khả thưa:

- Xin thầy từ bi chỉ dạy mọi việc.

Ngài dạy:

- Trong truyền Tâm ấn để khế hợp chỗ TÂM chứng, ngoài trao Ca sa để định tông chỉ. Đời sau có nhiều người cạnh tranh nghi ngờ, họ nói “Ta là người Ấn, ngươi là người Hoa, căn cứ vào đâu mà được Pháp, lấy cái gì để minh chứng?”. Ngươi gìn giữ pháp y này, nếu gặp tai nạn, ngươi đem ra làm biểu tín, thì sự giáo hóa không bị trở ngại. Hai trăm năm sau Ta diệt độ, y bát này dừng lại không truyền, vì lúc đó Phật pháp rất thịnh hành. Chính khi ấy người biết Đạo thật nhiều, người hành Đạo quá ít, người nói lý thì nhiều, người ngộ lý thì ít. Tuy nhiên, người thầm thông lặng chứng có hơn ngàn vạn. Người xiển dương, chớ khinh người chưa ngộ. Nghe Ta nói kệ:

Ngô bổn lai tư độ
Truyền pháp cứu mê tình
Nhất hoa khai ngũ diệp
Kết quả tự nhiên thành.

Dịch:

Ta sang đến cõi này,
Truyền pháp cứu mê tình
Một hoa nở năm cánh,
Nụ trái tự nhiên thành.

Ngài lại bảo:

- Ta có bộ Kinh Lăng Già bốn quyển, là Phật nói tột pháp yếu, cũng giúp cho chúng sanh Mở, Bày, Ngộ, Nhập kho “Tri Kiến Phật”, nay ta trao luôn cho ngươi. Ta từ Nam Ấn sang đây đã năm phen bị thuốc độc mà không chết, vì thấy xứ này tuy có khí đại thừa mà chưa ứng hợp, nên Ta lặng lẽ ngồi lâu chờ đợi. Nay Ta đã truyền trao xong, đã có thủy ắt phải có chung vậy.

Xong rồi, Ngài cùng đồ chúng đi đến Võ Môn ở chùa Thiên Thanh dừng lại ba hôm.

Quan Thái thú thành này tên Dương Huyễn Chi là người sùng mộ Phật pháp. Nghe tin Ngài đến, liền tới đảnh lễ. Ông hỏi:

- Thầy ở Ấn Độ được kế thừa làm Tổ, vậy thế nào là Tổ, xin thầy dạy cho?

Ngài đáp:

- Rõ được Tâm tông của Phật, không lầm một mảy, hạnh và giải hợp nhau, gọi đó là Tổ.

- Chỉ một nghĩa này hay còn nghĩa nào khác?

- Cần rõ TÂM người, biết rành xưa nay, chẳng chấp có không, cũng chẳng cố chấp, chẳng hiền chẳng ngu, không mê không ngộ.

Nếu hay hiểu như thế, cũng gọi là Tổ.

Huyễn Chi lại thưa:

- Đệ tử vì bị nghiệp thế tục, ít gặp được tri thức, trí nhỏ bị che lấp không thể thấy Đạo. Cúi xin thầy chỉ dạy, con phải noi theo đạo quả nào? Dùng tâm gì được gần với Phật Tổ?

Ngài vì ông nói kệ:

Diệc bất đổ ác nhi sanh hiềm
Diệc bất quán thiện nhi cần thố.
Diệc bất xả trí nhi cận ngu
Diệc bất phao mê nhi tựu ngộ.
Đạt đại đạo hề quá lượng.
Thông Phật TÂM hề xuất độ,

Bất dữ phàm thánh đồng triều siêu nhiên danh chi vi.

Tiễn cụ nu hương, KT 60×60cm, dày 15.
02/05/2025

Tiễn cụ nu hương, KT 60×60cm, dày 15.

Có có không không, không lại có
01/03/2025

Có có không không, không lại có

Gỗ nhai bách
30/10/2024

Gỗ nhai bách

27/10/2024
Gỗ Ngọc am ạ
26/08/2024

Gỗ Ngọc am ạ

Gỗ chun sụn hương ạ
15/08/2024

Gỗ chun sụn hương ạ

Address

Kiot 38 Trung Tâm Dịch Vụ Thương Mại Trung Văn 2, Nam Từ Liêm
Hanoi

Opening Hours

Monday 07:00 - 21:00
Tuesday 07:00 - 21:00
Wednesday 07:00 - 21:00
Thursday 07:00 - 21:00
Friday 07:00 - 21:00
Saturday 07:00 - 21:00

Telephone

+84976504699

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Đạt ma sư tổ posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share

Category