26/07/2026
ĐIỀU GÌ ĐANG KHIẾN CHẤT XÁM KIẾN TRÚC SƯ BỊ ĐỊNH GIÁ QUÁ RẺ⁉️ ( PHẦN TIẾP THEO VÀ HẾT)
Ở phần trước, tôi đã nói đến ba nguyên nhân mang tính hệ thống: giá trị của thiết kế rất khó nhìn thấy ngay từ đầu, mô hình Design & Build bị sử dụng như một cách lấy thiết kế làm bước đệm cho thi công, và áp lực cung – cầu khiến nhiều đơn vị gần như chỉ còn biết cạnh tranh bằng giá.
Sau bài viết đó, khá nhiều anh em trong nghề đã để lại bình luận và bổ sung thêm những góc nhìn đáng suy nghĩ.
Hôm nay những nguyên nhân tiếp theo sẽ là những nội dung “gần gũi” hơn
4. NỀN KINH TẾ VÀ ĐỜI SỐNG NHÂN DÂN QUA CÁC GIAI ĐOẠN
Đây là điều nhiều người đều biết, nhưng ít khi nhìn lại trong cả một quá trình dài.
Trong những thập niên 1980–1990, đời sống của phần đông người dân Việt Nam còn rất khó khăn. Với nhiều gia đình, ngôi nhà trước hết chỉ cần chắc chắn, không dột và đủ chỗ sinh hoạt. Khi cái ăn, cái mặc vẫn là vấn đề lớn thì nhu cầu về thẩm mỹ, tổ chức không gian hay chất lượng sống chưa thể được đặt lên hàng đầu.
Ở nông thôn, nhà cửa phần lớn được xây theo kinh nghiệm truyền thống. Ở thành thị, việc xây nhà cũng chủ yếu dựa vào đội thợ hoặc một người cai thầu quen biết. Kiến trúc sư, nếu có tham gia, nhiều khi chỉ được hiểu là người vẽ một bộ hồ sơ để công trình có thể triển khai.
Bước sang những năm 1990 và 2000, nền kinh tế bắt đầu thay đổi, nhưng nhận thức về giá trị của thiết kế không thể thay đổi ngay trong một thời gian ngắn.
Từ những năm 2000 đến khoảng 2020, các doanh nghiệp lớn về bất động sản và xây dựng phát triển mạnh, làm thay đổi đáng kể bộ mặt đô thị và thị trường nhà ở. Một bộ phận người dân bắt đầu có điều kiện đầu tư nhiều hơn cho ngôi nhà của mình.
Chỉ có điều, thị trường khi ấy phần lớn vẫn được dẫn dắt bởi chủ đầu tư, nhà thầu và các đơn vị cung cấp địa ốc . Khái niệm về một dịch vụ thiết kế độc lập, có tiêu chuẩn và có giá trị riêng vẫn chưa thật sự rõ ràng.
Nhiều người muốn có một ngôi nhà “sang”, nhưng cách hiểu về cái “sang” thường vẫn nằm ở diện tích lớn, vật liệu đắt tiền, nhiều chi tiết trang trí hoặc những thứ có thể nhìn thấy ngay.
Những năm gần đây, thế hệ khách hàng tiếp theo trẻ hơn, họ đã bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến trải nghiệm sống, thẩm mỹ cá nhân và sự phù hợp của không gian với chính bản thân mình . Một số kiến trúc sư và công ty có uy tín cũng đã có thể đưa mức phí thiết kế lên cao hơn so với mặt bằng chung.
Nhưng xét trên toàn thị trường, đây vẫn là một quá trình mới bắt đầu.
Nghề thiết kế nhà ở tại Việt Nam phát triển khá nhanh về số lượng người làm và số lượng sản phẩm được đưa ra thị trường, nhưng nhận thức xã hội về giá trị thật của thiết kế chưa chắc đã phát triển với cùng một tốc độ.
5. CHẤT LƯỢNG CỦA NGƯỜI LÀM NGHỀ CHƯA ĐỦ CAO VÀ ĐỒNG ĐỀU
Đây có lẽ là nguyên nhân nhạy cảm nhất, vì nói về chất lượng của cộng đồng làm nghề rất dễ bị hiểu thành đứng ngoài để phán xét.
Bản thân tôi không đứng ngoài câu chuyện này.
Tôi từng hỏi khá nhiều anh em thiết kế, cả già lẫn trẻ hơn tôi :
“Bạn có biết tại sao mình không thể lấy được mức phí thiết kế cao hơn không?”
Câu trả lời thường xoay quanh việc khách hàng chưa hiểu nghề, thị trường cạnh tranh, đơn vị khác nhận giá quá thấp hoặc chủ đầu tư ép giá.
Những điều đó đều đúng.
Nhưng còn một khả năng khác mà chúng ta ít muốn nhắc tới: sản phẩm mình làm ra có thể vẫn chưa đủ tốt để thuyết phục khách hàng trả một mức phí cao hơn.
Khoảng cách giữa đào tạo và thực tế hành nghề hiện nay vẫn còn khá lớn.
Trong năm năm đại học, sinh viên ngành thiết kế kiến trúc hoặc nội thất dành nhiều thời gian cho các đồ án công cộng, quy hoạch hoặc những công trình có quy mô lớn. Những đồ án ấy tất nhiên có giá trị riêng nhưng được mấy người sau khi ra trường sẽ được thiết kế ngay bảo tàng hay nhà văn hóa ???
Còn với loại hình nhà ở dân dụng - loại công trình mà hầu hết sinh viên sẽ trực tiếp làm sau khi ra trường, lại chưa được nghiên cứu đủ sâu về hành vi sống, cấu tạo, vật liệu, thiết bị, ngân sách và khả năng vận hành thực tế.
Vì vậy, khi bước vào các công ty thiết kế, phần lớn người trẻ đều phải học lại...từ đầu.
Doanh nghiệp thì trước hết phải tồn tại, nên không phải nơi nào cũng có đủ thời gian, nhân lực và chi phí để đào tạo một kiến trúc sư từ đầu một cách bài bản.
Trong mô hình Design & Build đang phổ biến, nhân sự thiết kế thường phải phục vụ một mục tiêu duy nhất : tạo ra phương án thiết kế đủ nhanh, đủ đẹp và “tạm thời” thuyết phục khách hàng để bước sang phần thi công – là giai đoạn mà hầu như mọi công ty thiết kế đều hướng tới.
Nhân sự thiết kế vì thế dễ bị cuốn vào cuộc đua nâng cao kỹ năng sử dụng phần mềm như : dựng hình, render và triển khai hồ sơ..vv.. Đây đều là những kỹ năng cần thiết, nhưng chưa phải toàn bộ năng lực của một kiến trúc sư.
Những khả năng quan trọng hơn như tổ chức không gian, tư duy tạo hình, kiểm soát ngân sách, phối hợp các bộ môn kỹ thuật và dự đoán rủi ro khi công trình được đưa vào sử dụng lại cần nhiều năm va chạm thực tế mới có thể hình thành.
Ở góc độ doanh nghiệp, họ cũng không nhất thiết cần một kiến trúc sư có tư duy độc lập. Trong nhiều trường hợp, họ chỉ cần một nhân sự có thể thực hiện tốt một phần công việc trong quy trình sản xuất hồ sơ.
Có lẽ vì vậy mà sau vài năm đi làm, không ít anh em tự gọi mình là “họa nô”. Cách gọi nghe có vẻ vui, nhưng cũng phản ánh khá đúng tâm trạng của nhiều người trẻ trong nghề.
Bản thân tôi cũng từng có những giai đoạn nghĩ rằng mình đang làm thiết kế, nhưng nhìn lại thì phần lớn thời gian chỉ là chạy theo tiến độ, sửa phương án và hoàn thành hồ sơ đúng hạn.
Có những sai lầm phải đến khi công trình được đưa vào sử dụng, mình mới nhận ra rằng một bản vẽ đẹp chưa chắc đã tạo ra một không gian sống tốt.
Giá trị thật của kiến trúc sư không chỉ nằm ở hình ảnh 3D hay số lượng bản vẽ. Nó nằm ở khả năng hiểu cách con người sẽ sống trong không gian ấy, tổ chức công năng, lựa chọn thiết bị, kiểm soát vật liệu và ngân sách, xử lý xung đột kỹ thuật và nhìn ra những vấn đề có thể xảy ra từ trước.
Nhưng khi nhiều người làm nghề trưởng thành chủ yếu trong quy trình sản xuất hồ sơ, đến lúc mở công ty, họ rất dễ tiếp tục lặp lại đúng cách làm mà mình từng trải qua.
Doanh nghiệp dùng thiết kế làm bước đệm cho thi công nên không muốn đầu tư nhiều vào chất lượng thiết kế. Không có đầu tư thì cũng khó có ngân sách và thời gian để đào tạo nhân sự. Sản phẩm làm ra chưa đủ tốt khiến khách hàng không thấy lý do phải trả phí cao. Các công ty lại tiếp tục giảm giá để lấy việc.
Giá thấp tạo ra chất lượng thấp, rồi chất lượng thấp lại tiếp tục hợp thức hóa mức giá thấp.
Một vòng lặp cứ thế hình thành.
6. CHI PHÍ THẬT SỰ PHÍA SAU MỘT BỘ HỒ SƠ THIẾT KẾ?
Khi nhận bàn giao thiết kế, khách hàng thường nhìn thấy một số hình ảnh phối cảnh, vài tập bản vẽ . Khi bước vào thi công, họ tiếp tục nhìn thấy những hình ảnh ngoài công trường được cập nhật theo từng giai đoạn.
Nhưng phía sau một bộ hồ sơ là rất nhiều giờ khảo sát, trao đổi, nghiên cứu phương án, chỉnh sửa, triển khai kiến trúc, nội thất, kỹ thuật, dự toán, lựa chọn vật liệu, phối hợp với nhà thầu và xử lý những thay đổi trong quá trình thi công ..vân vân và mây mây …
Một dự án có thể bao gồm hàng trăm đầu việc lớn nhỏ. Chỉ cần một số công việc không được làm đến nơi đến chốn, vấn đề sẽ xuất hiện ở công trường.
Ngoài thời gian làm việc còn có chi phí nhân sự, thiết bị, văn phòng, thuế, phần mềm và toàn bộ hệ thống vận hành của doanh nghiệp.
Câu chuyện bản quyền phần mềm đang khiến cộng đồng thiết kế quan tâm gần đây là một ví dụ khá rõ. Trong nhiều năm, một bộ phận cá nhân và doanh nghiệp đã quen sử dụng phần mềm không có bản quyền. Khi các yêu cầu về thuế, tính minh bạch của đầu vào doanh thu và mọi bản quyền ngày càng chặt chẽ hơn, một văn phòng muốn hoạt động nghiêm túc buộc phải bỏ ra một khoản đầu tư không hề nhỏ .
Tất nhiên, khách hàng không có nghĩa vụ phải quan tâm doanh nghiệp đang trả bao nhiêu tiền cho phần mềm, văn phòng hay nhân sự.
Điều họ cần quan tâm là khi những chi phí cần thiết ấy bị cắt bỏ, chất lượng công việc sẽ bị ảnh hưởng như thế nào.
Phương án có thể được nghiên cứu ít hơn. Hồ sơ có thể xuất hiện nhiều lỗi phối hợp hơn. Nhân sự phải chạy quá nhiều dự án nên không còn đủ thời gian để kiểm tra. Những việc đáng lẽ phải giải quyết trên bản vẽ sẽ được chuyển sang công trường.
Cuối cùng, chủ nhà có thể phải trả phần chi phí còn thiếu bằng những khoản phát sinh, thời gian xử lý, sự mệt mỏi và những bất tiện kéo dài trong quá trình sử dụng.
Mức phí thiết kế thấp trong nhiều năm qua vẫn có thể tồn tại bởi rất nhiều chi phí chưa được tính đúng.
Nhân sự làm thêm nhưng không được trả đủ. Phương án bị chỉnh sửa không giới hạn nhưng không tính thêm phí. Chủ doanh nghiệp làm từ tư vấn, thiết kế, quản lý đến xử lý công trường nhưng không tính công của chính mình. Nhân sự trẻ nhận lương thấp và phải chạy quá nhiều dự án cùng lúc.
Khách hàng nhìn thấy một bộ hồ sơ có giá rẻ. Phần còn thiếu được trả bằng thời gian nghiên cứu bị cắt giảm, bằng sức lao động của nhân sự và bằng những rủi ro được chuyển sang quá trình thi công.
Vấn đề không chỉ là tại sao thiết kế lại rẻ, mà còn là mức giá ấy đang được duy trì bằng cách nào và cuối cùng ai sẽ phải trả phần chi phí còn thiếu.
7. Người làm nghề chưa biết định giá phần chất xám của chính mình
Rất nhiều văn phòng được mở ra bởi những kiến trúc sư có chuyên môn tốt và làm nghề nghiêm túc.
Nhưng biết thiết kế không đồng nghĩa với biết vận hành một doanh nghiệp thiết kế. Đây cũng là bài học mà bản thân tôi từng phải trả giá mới hiểu được.
Không ít kiến trúc sư đưa ra đơn giá bằng cách nhìn sang công ty khác hoặc dựa vào mặt bằng chung của thị trường. Chính họ cũng chưa biết rõ một dự án cần bao nhiêu giờ làm việc, bao nhiêu nhân sự, bao nhiêu lần chỉnh sửa và bao nhiêu chi phí quản lý.
Nhiều hợp đồng không quy định rõ số lượng phương án, phạm vi công việc, trách nhiệm của mỗi bên hay chi phí cho những yêu cầu phát sinh.
Khi khách hàng đề nghị sửa thêm, người thiết kế thường chấp nhận vì muốn giữ khách hoặc sợ mất hợp đồng. Những yêu cầu nhỏ dần trở thành một khối lượng công việc rất lớn, nhưng giá trị hợp đồng gần như không thay đổi.
Đến cuối dự án, công việc có thể đã tăng gấp đôi trong khi doanh thu vẫn giữ nguyên.
Người làm nghề cũng thường nói với khách hàng rất nhiều về ý tưởng, phong cách và ngôn ngữ thiết kế.
Những điều ấy không sai, nhưng phần lớn khách hàng lại quan tâm đến những vấn đề cụ thể hơn: phương án này giúp gia đình họ sống thuận tiện hơn thế nào, tiết kiệm được khoản nào, tránh được rủi ro gì và tại sao họ nên chọn kiến trúc sư này thay vì một đơn vị khác.
Khi không thể diễn giải giá trị bằng một ngôn ngữ khách hàng có thể hiểu, người kiến trúc sư cuối cùng lại quay về bán những thứ dễ đếm nhất: số lượng phối cảnh, số lượng bản vẽ và đơn giá trên một mét vuông.
Phần chất xám lúc ấy được định giá gần giống một loại vật tư. Có diện tích, có đơn giá, nhân hai con số với nhau là ra giá trị hợp đồng.
Trong khi điều quan trọng hơn là phương án ấy giúp khách hàng tránh được những sai lầm gì, tiết kiệm được bao nhiêu và tạo ra chất lượng sống ra sao thì lại rất khó nhìn thấy trong một bảng báo giá.
“Bán bản vẽ thay vì bán giá trị” vì thế không phải nguyên nhân gốc. Nó là hệ quả của việc người làm nghề chưa biết quản trị, chưa biết định giá và chưa biến phần chất xám của mình thành những lợi ích đủ rõ để khách hàng nhìn thấy.
Bản thân kiến trúc sư còn chưa biết chính xác mình đang bán điều gì thì cũng khó yêu cầu khách hàng phải tự hiểu và chấp nhận một mức giá cao hơn.
Qua hai phần bài viết, tôi đã đưa ra bảy nguyên nhân khiến chất xám của người làm nghề thiết kế vẫn đang bị định giá thấp. Có nguyên nhân đến từ lịch sử thị trường, mô hình kinh doanh, áp lực cạnh tranh và nhận thức của khách hàng. Cũng có những nguyên nhân nằm ngay trong chính người làm nghề.
Vì vậy, điều cần thay đổi có lẽ không chỉ là đơn giá thiết kế. Mà là chất lượng sản phẩm thiết kế thật sự , cách vận hành và tư duy của người làm nghề nhìn nhận giá trị của chính mình ,việc chỉ yêu cầu khách hàng phải tôn trọng chất xám sẽ khó tạo ra một thay đổi thực sự.
Theo các anh chị, phí thiết kế thấp hiện nay chủ yếu vì khách hàng chưa hiểu nghề, hay vì chính người làm nghề vẫn chưa chứng minh được giá trị của mình?
Rất mong được nghe thêm những góc nhìn khác dưới bình luận.
Hà Nội, 26/07/2026
KTS. Vũ Hùng Cường