14/04/2026
Gồm 3 Phần Cho Mọi người Dễ Hiểu:
1.PHOWA — Pháp Môn Chuyển Di Thần Thức Tại Thời Điểm Thân Trung Ấm BARDO đến cõi Tịnh Độ của Phật A Di Đà
2.LƯỢC SỬ CỦA PHÁP MÔN PHOWA BỞI ĐỨC LIÊN HOA SINH GURU RINPOCHE
3.PHÁP CHUYỂN DI THẦN THỨC "DRIKUNG PHOWA - NGỌN CỎ THẲNG ĐỨNG" | Drikung Phowa "the standing grass"
______________
🌞1.PHOWA — Pháp Môn Chuyển Di Thần Thức Tại Thời Điểm Thân Trung Ấm BARDO đến cõi Tịnh Độ của Phật A Di Đà :
Phowa hay pháp chuyển di thần thức tại thời điểm chết là phương pháp đơn giản nhất và trực tiếp nhất để đạt giác ngộ.
Phowa, một Pháp môn Tịnh Độ Tây Tạng thật thù thắng vi diệu hành giả tu tập thành tựu có thể có khả năng chuyển di thần thức của mình ngay sau khi chết trực vãng sanh về thế giới Tây Phương Tịnh Độ của Đức Phật A-Di-Đà không bị trải qua 49 ngày trong thân trung ấm Bardo .
Đồng thời, hành giả đắc Pháp này với dấu hiệu thành tựu rồi thực hành miên mật thì vị này cũng có khả năng làm Phowa cho người khác, tức là chuyển di tâm thức của người hay vật chết vào cõi Tịnh Độ của Đức Phật A Di Đà.
🌞2.LƯỢC SỬ CỦA PHÁP MÔN PHOWA BỞI ĐỨC LIÊN HOA SINH GURU RINPOCHE :
Thầy sẽ nói sơ qua về lịch sử của pháp môn Phowa mà chúng ta đang thực hành. Tên của pháp tu Phowa đặc biệt này là “Ngọn cỏ thẳng”. Nếu như thực hành Phowa đúng cách, đỉnh đầu của ta sẽ trở nên rất mềm. Khiếu này trở nên lỏng hơn và các con có thể cắm thẳng một ngọn cỏ vào đó. Điều này đã từng xảy ra với các hành giả. Vì uy lực tốc chứng của pháp tu này nên nó được gọi là “Ngọn cỏ thẳng”.
Thuở trước, Pháp vương Tây Tạng tên Trisong Detsen (Xích Tùng Đức Tán) đã mời Đức Liên Hoa Sinh đại sư từ Thiên Trúc sang Thổ Phồn. Ở đây, Đức Liên Hoa Sinh đại sư đã ngụ ở một nơi có tên Chimpu, trong một hang động gần tu viện Tang Duyên. Vua Trisong Detsen (Xích Tùng Đức Tán) có một vị đại thần rất thân cận tên là Nyima. Quan Nyima là người giàu có và đầy quyền lực. Ngài có hai biệt thự dành cho hai mùa khác nhau. Ở mỗi nơi ngài đều có rất nhiều tiền của và ngài thường mang các đồ vật từ nơi này sang nơi khác.
Một hôm, khi ngài mang một số hàng hoá từ ngôi này này sang ngôi nhà khác, ngài đã gặp phải một tai hoạ. Trong đêm, ngài phải châm đèn trong một căn nhà và lửa đã bén. Lửa lan rất nhanh và rồi không ai dập nổi. Trận hoả hoạn đã lấy đi sinh mạng của mười ba người trong gia đình ngài bao gồm cả cha mẹ ngài và nhiều gia súc.
Vị đại thần đã trở nên vô cùng suy sụp sau trận hoả hoạn. Ngài lúc nào cũng ưu sầu về việc ngài đã phạm phải một ác nghiệp rất nặng, đó là giết cha mẹ. Ngài không thể thoát khỏi tình trạng này. Ngài hoảng hốt khi nghĩ về quả báo do ngài đã phạm ác hạnh. Vậy nên vua Xích Tùng Đức Tán đã thỉnh cầu Đức Liên Hoa Sinh đại sư giúp đỡ vị quan đại thần.
Bằng thần thông của mình, Đức Liên Hoa Sinh đại sư đã tới cõi Tây phương Cực Lạc và thụ lãnh pháp tu Phowa trực tiếp từ Đức Phật A Di Đà. Theo lời dạy của Đức Phật A Di Đà, Đức Liên Hoa Sinh đại sư đã truyền lại giáo pháp này cho vị quan đại thần. Sau đó, giáo huấn được phong ấn. Đại quan Nyima đã nhận pháp môn này ở tu viện Tang Duyên và ngài đã thực hành. Cuối đời, ngài đã được vãng sinh Cực Lạc. Có những dấu hiệu thù thắng cho thấy ngài đã thành tựu pháp, như cầu vồng xuất hiện trên trời và ngài để lại xá lợi.
Sau khi đã dạy cho vị quan, Đức Liên Hoa Sinh đại sư đã viết lại giáo pháp này trên lá cọ, dùng máu của ngón tay đeo nhẫn ngài làm mực, tóc của bà Yeshe Tsogyal làm bút. Bản văn đã được phong ấn bảy lần và được gói trong lụa không thấm nước. Ngài lại đặt nó vào trong hồ Mạn Đà La ở trên đồi vùng Gampo. Ở đó, Đức Liên Hoa Sinh đã chỉ định Long vương Tsunam Rinchen làm hộ pháp cho giáo pháp này. Liên Hoa Sinh đã tiên đoán với Long vương rằng trong tương, hoá thân của Nyima sẽ tái sinh với tên Nide Sangye và sẽ nhận lại bản văn này.
Một vài thế kỉ sau đó, khoảng 350 năm sau, đại thần Nyima đã tái sinh với tên Nide Sangye, con trai của một người chăn cừu. Nide Sangye cũng trở thành người chăn cừu và ngài là người đầy lòng từ bi. Ngài từ bi đến độ ngài thường xuyên khóc khi thấy cừu chết hoặc cừu có vấn đề. Ngài khóc vì ngài có lòng từ bi. Một lần, Đức Phật A Di Đà đã đích thân hiện ra trước mặt ngài và trao trực tiếp cho ngài giáo huấn Phowa. Sau đó Nide Sangye đã dùng những phương tiện này để chuyển di thức của các con vật khi chúng chết. Ngài cũng nhận bản văn được cất dưới hồ do Long vương giữ gìn.
Nide Sangye đã truyền lại giáo huấn này thành một dòng truyền xuống đến các vị đại sư: Namkya Gyaltsen, Sangbhadra, Padmo Chime Lodrol, Choki Sangye Gyaltsen, Lobpong Gyaltsen, Londrak Phuntsog Namgyal – trụ trì tu viện Drikung Nyamrigon, sau đó xuống đến Thắng giả Konchok Ratna – Drikung Kyabgon Chetsang đời I. Sau đó từ Konchok Ratna xuống đến Đại sư của dòng Drikung Dharmakirti – Chungsang Rinpoche đời I. Như vậy, giáo pháp Phowa đã được truyền vào dòng Drikung và nhiều người đã thực hành và đạt thành tựu.
🌞3.PHÁP CHUYỂN DI THẦN THỨC "DRIKUNG PHOWA - NGỌN CỎ THẲNG ĐỨNG" | Drikung Phowa "the standing grass" :
Pháp “Phowa”, còn được gọi là Pháp Chuyển Di Thần Thức, là một trong những công phu thiền định cao và hiệu lực nhất để chuẩn bị cho thần thức sau khi lìa đời được tái sanh vào cõi cao hơn hoặc được vãng sanh Tây Phương Cực Lạc Quốc.
Dòng Drikung Kagyu nổi tiếng ở chỗ truyền đạt thành công năng lực của pháp “Phowa” cho các hành giả đã thọ nhận quán đảnh và chí thành tu tập pháp môn này. Pháp môn Phowa do các vị Lama dòng Drikung trao truyền được biết đến dưới tên ‘Drikung Phowa Chenmo’ hay ‘Đại pháp môn Phowa của Drikung.’ Oai lực của pháp môn Phowa Drikung lớn cho đến nỗi pháp hội Drikung Phowa Chenmo đã trở thành một truyền thống Tây Tạng được tổ chức mỗi 12 năm một lần ở Drongor Sumdho tại vùng Drikung thuộc miền trung Tây Tạng.
Danh tiếng của pháp môn Phowa càng tiếp tục lan truyền vì hàng ngàn người tham dự đều trực tiếp chứng nghiệm các dấu hiệu của [sự thành tựu] Phowa trong buổi lễ khẩu truyền do một vị Lama cao cấp của dòng Drikung Kagyu ban phát.
Nhờ oai lực của dòng truyền và lực gia trì không gián đoạn của chính pháp môn Phowa từ đức Kyobpa Jigten Sumgon (Tổ sáng lập của dòng Drikung, vốn được xem như đức Phật thứ 2) cho đến các Pháp Vương ngày nay, vị Lama đủ khả năng có thể trực tiếp trao truyền lực gia trì của pháp môn cho các đệ tử chí thành và thanh tịnh, và những người này có thể chứng nghiệm các dấu hiệu của pháp thiền Phowa rất nhanh chóng. Nếu được như vậy thì người đó được xem là chuẩn bị vãng sinh về Phật quốc của đức A Di Đà khi lìa đời. Kinh dạy rằng khi đã về Tịnh độ thì sẽ không quay trở lại luân hồi nữa và có thể nhanh chóng đạt giác ngộ.
Bởi vì tất cả các lý do này, pháp môn Drikung Phowa trở nên đặc biệt thích hợp trong thời buổi này, khi mà, trong xã hội ngày nay, chúng ta không có thời gian và điều kiện để đi suốt đạo lộ như các vị tiền bối đã từng làm. Chúng ta rất cần một con đường tu đơn giản, thích hợp, trực tiếp và cho phép chúng ta chuyển hóa sự căng thẳng và khẩn trương của đời sống hiện đại thành một nguồn sinh lực đối trị chủ nghĩa vật chất, đối trị sự bám chấp vào các pháp thế gian, và đánh thức trong [tâm thức] chúng ta [tiềm năng] chứng ngộ Phật tính.
Tuy đơn giản nhưng pháp thiền Drikung Phowa có công năng mãnh liệt. Chúng ta cũng có cơ hội tu tập thuần thục pháp môn Phowa như hàng ngàn người ở Tây Tạng, cho phép chúng ta chuyển hóa kinh nghiệm về cái chết, một kinh nghiệm chắc chắn sẽ xảy ra, thành con đường thành tựu Tịnh độ Cực lạc.
Tại Tây Tạng, pháp môn Phowa lừng danh của dòng Drikung được trao truyền cứ mỗi 12 năm bởi hai vị Lạt ma trưởng dòng Drikung. Theo giáo huấn đức Gyalwang Karmapa Rangjung Rigpe Dorje đời thứ 16 là vị Bổn sư của Ngài Choeje Ayang Rinpoche thì Ngài Ayang Rinpoche đã bắt đầu trao truyền pháp Phowa lần đầu tiên tại Ấn Độ vào năm 1963 và tại các nước phương Tây năm 1975.
Nguồn Ms Dolma Lhamo.