03/02/2026
[ PAPER HOUSE | KIẾN TRÚC VÀNG MÃ ]
Một bài tiểu luận của LAITA Design cho Chuyện Nghề Cuối Năm 2025
Chúng ta đang sống trong một bối cảnh kiến trúc của những sự tích lũy, tích lũy các quyết định vội vàng - ngắn hạn, tích lũy tri thức truyền miệng, nhưng không còn tích lũy thời gian. Giống như những Ngôi nhà Vàng mã, được nhân bản hàng triệu lần và chờ được biến mất trong lửa, không ai quan tâm đến sự nguyên bản của nó, nhưng nó không phải là đồ giả. Nó là đồ tượng trưng cho việc sử dụng, nhưng không phải để sử dụng thực. Một ngôi nhà vàng mã có cửa nhưng không cần mở, có mái nhưng không cần che mưa, có tỷ lệ, có hình dáng, có trang trí nhưng không cần chịu trách nhiệm với thời gian. Kiến trúc Đại chúng hôm nay đang hình thành và vận hành giống vậy.
Nếu Kiến trúc Đại chúng của Việt Nam đang xấu và hỗn tạp, đó không phải vì công chúng không hiểu kiến trúc, mà vì chúng ta, những kiến trúc sư, đang bỏ rơi họ và bởi kiến trúc không còn "giao tiếp" với họ bằng một ngôn ngữ có thể dễ dàng sao chép. Ivan Illich (1926 - 2002), một triết gia xã hội - nhà phê bình thể chế người Áo, ông dành cả cuộc đời để đứng ngoài rìa mọi hệ thống chuyên môn - quyền lực, đã ta thán rằng: "Khi một lĩnh vực trở nên quá chuyên biệt, nó tước quyền tự quyết của cộng đồng, rồi quay lại trách cộng đồng là “không hiểu mình”".
-
Không gian kiến trúc được thực tạo bởi những người đưa ra quyền quyết định, trong khi kiến trúc sư thường chỉ được giới hạn ở mức đề xuất, hoặc trang trí một cách tinh vi, hay hợp thức hóa một quyết định đã được đưa ra trước đó bởi các yếu tố kinh tế và thói quen xây dựng.
Dù thiếu vắng vai trò của kiến trúc sư, không gian xây dựng tại Việt Nam cho thấy sự lặp lại chính xác đáng kinh ngạc của những hình thái, cấu trúc không gian, chi tiết, bất chấp khác biệt về khí hậu, văn hóa và bối cảnh địa phương. Những mô-típ này không phải là ngẫu nhiên. Chúng vận hành như các “hình mẫu vô danh", được sự hỗ trợ của những vật liệu công nghiệp đương thời, sức lan tỏa nhanh chóng và khả năng tự tái sinh của nó gần như vô hạn. Nhưng khi vật liệu chỉ đơn thuần là các giải pháp, và thiên nhiên được xem là kho tài nguyên đứng chờ sẵn để được khai thác phục vụ con người thì kiến trúc cũng dần mất đi phẩm chất an cư vốn có, Martin Heidegger (1889 - 1976) gọi đây là tư duy và thái độ Gestell, bi kịch của việc đặt con người là trung tâm của vạn vật.
Các hình mẫu này hiếm khi xuất hiện trong các diễn ngôn, phê bình học thuật, không được giảng dạy chính thức trong các trường kiến trúc, và càng không phải là đối tượng được tôn vinh trong các giải thưởng. Tuy nhiên, chính chúng mới đang "phân chia tế bào" hàng ngày và định hình bộ mặt Kiến trúc Đại chúng. Chúng được truyền miệng thông qua mạng lưới thợ xây, nhà thầu, chủ đầu tư cá nhân, và đặc biệt là thông qua cơ chế sao chép vô thức tập thể, những cụm từ “đã thấy ở đâu đó / nhiều người đã làm” trở thành một lý do đủ mạnh để lặp lại.
Kiến trúc sư chúng ta thường đứng ngoài quá trình này. Phản ứng trước chất lượng không gian xây dựng đại chúng thường được bày tỏ dưới dạng phê phán nhóm, một vài bài tiểu luận dằn vặt về một nền kiến trúc hỗn tạp - nhưng cũng ngày một thưa dần và mất hút trên các tạp chí khoa học, và rồi chúng ta tự thu mình vào các dự án “tác giả và tác phẩm” có tính chọn lọc cao và không còn quan tâm đến hiện tượng này nữa. Điều này tạo ra một nghịch lý: kiến trúc sư ngầm phản đối những hình mẫu đang chiếm lĩnh thực tại, nhưng đồng thời lại không đưa ra một chiến lược thiết kế có tính thay đổi hoặc những hình mẫu có khả năng sao chép để thay thế chúng. Từ lâu các kiến trúc sư đã sợ bị sao chép, sợ sự phái sinh – biến dị, sợ bị hiểu nhầm, sợ bị pha loãng giá trị bản thân.
Tiểu luận này không nhằm than phiền về sự suy giảm vai trò của kiến trúc sư, cũng không tìm cách lý tưởng hóa công chúng hay thị trường. Thay vào đó, nó đặt câu hỏi căn bản: điều gì khiến các hình mẫu vô danh này có thể lan truyền và tồn tại bền bỉ như vậy, và liệu kiến trúc sư có thể can thiệp vào quá trình đó bằng cách chủ động tạo ra những hình mẫu tốt có khả năng thay thế, chứ không chỉ những công trình độc bản? Từ đó, bài viết đề xuất việc xem xét sự sao chép hay bị sao chép không phải là kẻ thù của kiến trúc, mà là một cơ chế quyền lực ngầm mà kiến trúc sư có thể tái chiếm.
-
Những hình mẫu kiến trúc phổ biến tại Việt Nam hình thành thông qua một quá trình tích lũy cộng dồn của các quyết định thực dụng, được lặp lại đủ nhiều để trở thành “điều hiển nhiên”. Chính sự hiển nhiên - vô phương kháng cự này khiến chúng gần như vô hình trong các phân tích học thuật, dù lại cực kỳ hữu hình trong đời sống hàng ngày.
Nhà ống không chỉ là kết quả của lô đất hẹp, mà là sự hợp thức hóa của một chuỗi quyết định: tầng trệt phải sinh lợi, cầu thang phải đặt giữa, ánh sáng phải tự xoay xở, thông gió là phụ phẩm hoặc phó thác cho công nghệ. Logic này được sao chép không phải vì nó tốt, mà vì nó hoạt động đủ lâu để không bị đặt lại câu hỏi. Mỗi lần một căn nhà như vậy được xây xong và được sử dụng, nó trở thành bằng chứng cho lần sao chép tiếp theo. Câu hỏi "Ai là người đầu tiên đề xuất và quyết định mô hình này?" cũng không còn quá quan trọng.
Mặt tiền như một chiếc mặt nạ, ngôn ngữ kiến trúc mất tính chiều sâu, bị làm phẳng thành một bề mặt hai chiều đủ để thể hiện "nhãn hiệu nhận diện phong cách kiến trúc". Phía sau lớp áo đó, không gian nội thất - cách con người sống trong đó gần như không đổi. Hình mẫu này lan truyền mạnh mẽ vì nó thỏa mãn hai nhu cầu cùng lúc: mong muốn khác biệt và nỗi sợ rủi ro. Chỉ cần đổi lớp mặt tiền, người xây nhà có thể cảm thấy mình đã “thiết kế”, còn chủ nhà cảm thấy mình đã đạt được một ý đồ “chính trị” với các mối quan hệ.
Mọi chức năng được xếp chồng lên nhau theo hệ đà cột mà không có sự cân nhắc hòa giải với chất lượng không gian. Một mớ hỗn dụng của nhà ở kết hợp kinh doanh, quán cà phê trong nhà ở, showroom trong biệt thự, văn phòng trong shophouse. Đây không phải là mixed-use theo nghĩa đô thị học, mà là chồng chức năng vì áp lực kinh tế - hiện đại hóa sự nghèo đói (Illich). Thầy giáo nông dân Hoa Sĩ Hiền (1968) từng nói: “Tiền là thứ kéo lùi bước tiến của xã hội”. Bởi những không gian này chỉ đủ dùng tại thời điểm hiện tại, một sự sống tạm bợ không có điểm kết thúc. Chúng phản ánh nhịp sống và sinh kế của xã hội, và tiếp tục được nhân rộng, bất chấp chất lượng không gian kém cỏi. Nikos Salingaros (1952) đã phàn nàn rằng: “Phần lớn kiến trúc đương đại ngày nay không còn liên hệ gì với sinh học của con người nữa", trong khi Juhani Pallasmaa (1936) gọi là: "Mất ký ức cơ thể với không gian".
Những hình mẫu này được truyền miệng bởi mạng lưới thợ xây, chủ nhà, nhà đầu tư nhỏ lẻ. Trong hệ sinh thái này, nếu có mặt kiến trúc sư, chúng ta như người hợp thức hóa thẩm mỹ cho một quyết định đã rồi. Việc phản đối các hình mẫu vô danh này bằng ngôn ngữ đạo đức hay đề xuất thẩm mỹ mới là vô hiệu. Chúng không tồn tại vì đẹp hay xấu, mà vì chúng dễ sao chép, dễ hiểu, cho cảm giác an toàn. Nếu kiến trúc sư muốn can thiệp vào thực tại này, thì không chỉ nằm ở việc phê phán các hình mẫu hiện hữu, mà ở việc cần tạo ra những hình mẫu thuyết phục hơn, và không quá nhạy cảm với việc bị sao chép.
-
Kiến trúc Đại chúng tại Việt Nam đang được xây dựng mà không cần kiến trúc sư, điều này không phải là một sự khủng hoảng, cũng không phải là ngoại lệ; nó là trạng thái bình thường. Không gian sống, làm việc, kinh doanh và tiêu dùng tiếp tục được "sản xuất hàng loạt". Kiến trúc, trong trường hợp này, nó tự vận hành, nó chỉ thiếu người nắm giữ ngôn ngữ mẫu. Mặc dù vậy Kiến trúc Đại chúng Việt Nam cũng không hề ngẫu nhiên, nó vẫn có ngôn ngữ của riêng nó. Các hình thái quen thuộc lặp lại với độ chính xác bất ngờ, từ Bắc vào Nam, từ đô thị lớn đến vùng sâu. Những ngôi nhà giống nhau xuất hiện ở những nơi chưa từng gặp nhau. Những mặt tiền có vẻ khác nhau che giấu những mặt bằng gần như đồng dạng. Sự khác biệt được dàn dựng, trong khi cấu trúc thì bất động.
Những hình mẫu vô danh chưa một ngày được được viết ra, nhưng được nhớ rất kỹ. Chúng không được dạy, nhưng được học. Chúng không được bảo vệ, nhưng được nhân bản. Kiến trúc ở đây không còn là sản phẩm của ý chí sáng tạo, mà là kết quả của sự tích lũy vô thức, nơi mỗi quyết định nhỏ hợp lại thành một hệ thống đủ mạnh để tự tái sản xuất, một dạng tri thức bản địa hỗn tạp bị các kiến trúc sư từ chối.
Và kiến trúc sư trở thành một nhân vật bên lề, bởi ngôn ngữ của họ không còn trùng khớp với cơ chế sản xuất không gian đang chi phối xã hội. Những công trình của họ hoạt động trong một lớp thực tại khác, song song và gần như không giao cắt với không gian được xây dựng hàng ngày. Có chăng chỉ là chia sẻ cùng một bối cảnh, nguồn nhân công và vật liệu tại chỗ.
Tiểu luận này cũng không tìm cách phục hồi vai trò trung tâm cho kiến trúc sư, cũng không đề xuất một sự cứu rỗi mang tính đạo đức. Thay vào đó, nó mời gọi kiến trúc sư trở lại đúng xuất phát điểm khi chưa từng tồn tại một chức danh tách biệt như ngày hôm nay. Nếu Kiến trúc Đại chúng được định hình bởi những gì có thể bị sao chép, thì câu hỏi không còn là làm sao để tránh bị sao chép, mà là làm sao để được sao chép, thậm chí bị tinh chỉnh mà vẫn tốt. Alvar Aalto (1898 - 1976) cũng đề xuất việc các kiến trúc sư nên tạo ra một cấu trúc tinh vi và thích ứng tốt hơn với bối cảnh.
-
Sao chép và bị sao chép thường được xem như kẻ thù của sáng tạo. Walter Benjamin (1892 - 1940), một nhà phê bình văn hóa - lý luận nghệ thuật người Đức, cho rằng: "Sao chép cơ học làm mất hào quang (aura) của tác phẩm nghệ thuật”. Trong một số diễn ngôn kiến trúc đương đại khác, nó gắn liền với sự lười biếng, thiếu bản sắc, suy thoái chất lượng - "phối cận huyết". Tuy nhiên, trong thực hành xây dựng đại chúng, sao chép là cơ chế học tập cổ xưa nhất của loài người. Không gian được lan truyền vì nó dễ hiểu, dễ làm, và đã được kiểm chứng trong sử dụng. Nhưng cũng chính Benjamin tiên kiến về một cái bẫy của sự sao chép cơ học là nó có thể tạo ra những vật thể trông có giá trị nhưng "rỗng lịch sử".
Aalto nói rằng: “Kiến trúc sư không thể cứu được thế giới, nhưng họ có thể tạo ra những hình mẫu tốt.” Câu nói này được trích dẫn như một lời an ủi đạo đức. Nhưng nếu được ngẫm, nó là một tuyên bố có tính chiến lược. Aalto không nói về công trình xuất sắc, mà nói về hình mẫu. Hình mẫu, theo nghĩa đó, không phải là nguyên bản - độc nhất, mà là một cấu trúc đủ rõ ràng để được lặp lại mà không sụp đổ về chất lượng.
Christopher Alexander (1936 - 2022) đi xa hơn trong cuốn A Pattern Language (Ngôn ngữ Kiểu mẫu), ông không tìm cách bảo vệ tính độc quyền của thiết kế, mà ngược lại, ông cố tình tạo mã nguồn mở. Mỗi pattern sống được viết ra để người khác sử dụng, điều chỉnh, thậm chí thử sai, bởi cũng không có pattern nào được triển khai theo 2 cách giống hệt nhau. Với Alexander, giá trị của thiết kế cũng không chỉ nằm ở việc nó có được sao chép hay không, mà nằm ở việc nó vẫn còn hoạt động khi bị sao chép, thậm chí lai tạp và biến dị.
Sao chép không phải là hiện tượng phụ, mà là điều kiện mặc định. Không hoàn toàn nhưng công trình tốt nếu chỉ tồn tại được như một hoặc nhiều ngoại lệ song hành thì về mặt xã hội học kiến trúc, nó thất bại. Kiến trúc Đại chúng không được quyết định bởi những gì kiến trúc sư muốn giữ lại hay bảo tồn nguyên trạng cho riêng mình, mà bởi những gì công chúng thấy đủ hấp dẫn, cám dỗ để làm theo.
Một kiến trúc bị sao chép cũng có thể tạo ra một phiên bản thảm họa, nhưng cũng có thể có một phiên bản giữ được logic không gian, ánh sáng, tỷ lệ sinh học con người, và sự nhân văn ở mức tối thiểu. Sự khác biệt nằm ở việc kiến trúc sư có ý thức rằng tác phẩm của mình sẽ bị sao chép hay không. Nếu coi sao chép là điều không thể tránh, thì thiết kế phải chuyển từ việc tối ưu cho một khách hàng duy nhất, sang tối ưu cho một chuỗi những người dùng gián tiếp không quen biết trong tương lai.
Ở đây, Aalto và Alexander gặp nhau ở một điểm: kiến trúc không còn là vật trưng bày cho giới chuyên môn, mà là hạ tầng văn hóa. Một hình mẫu tốt không cần được giải thích quá nhiều. Nó tự biện hộ bằng việc được lặp lại mà không bị biến chất.
-
Kiến trúc Đại chúng được sản xuất bởi thợ xây hoặc nhà thầu xây dựng. Thợ xây không thiết kế, nhưng họ ghi nhớ bằng đôi tay của họ. Họ ghi nhớ những gì dễ làm, ít rủi ro, ít khiếu nại, và đã được sử dụng nhiều lần. Họ sở hữu thứ tri thức của đôi bàn tay, không được viết ra, không có sơ đồ, nhưng hiệu quả trong việc tái sản xuất. Thợ xây quan tâm đến: chi phí và thời gian, tính lặp lại của chi tiết, khả năng thay đổi tại công trường và mức độ “an toàn” khi làm điều đã quen. Kiến trúc sư thường gặp khó khăn khi không dịch được sang ngôn ngữ của xây dựng đại chúng. Một chi tiết tốt trên bản vẽ của kiến trúc sư nhưng không thể được nhớ, không thể được kể lại, nó sẽ chết ngay sau công trình đầu tiên.
Học từ thợ xây chính là học từ "dấu vết của lao động con người" một giá trị khác của kiến trúc theo cách mô tả của John Ruskin (1819 - 1900), nó không có nghĩa là chấp nhận thẩm mỹ thấp hay logic cũ kỹ. Học cách đơn giản hóa mà không thô thiển, học cách tạo ra chi tiết có thể được hiểu mà không cần chú thích dài, học cách để thiết kế sống sót trong môi trường không lý tưởng. Alexander đã nói rằng: "Các hình mẫu chỉ có giá trị khi nó được những người không phải kiến trúc sư sử dụng. Nếu một chi tiết chỉ hoạt động khi có kiến trúc sư đứng cạnh để giải thích, thì nó không phải là hình mẫu, mà là phụ thuộc."
Ở đây, kiến trúc sư cần một sự đảo chiều vai trò: từ người đề xuất hay áp đặt, bảo vệ hình thức sang người can thiệp vào chuỗi quyết định. Không phải thay thế thợ xây, mà chèn vào logic của họ những cải tiến có khả năng lan truyền như một giống "virus lành tính". Kiến trúc Đại chúng không thể thay đổi bằng những tuyên ngôn hay những con người truyền cảm hứng. Nó thay đổi khi một chi tiết tốt được lặp lại đủ nhiều để trở thành thói quen mới. Và thói quen, đáng tiếc và cũng may mắn chỉ được quyết định ngay tại công trường.
-
Kiến trúc sư là những người thiết kế và cũng là những nhà phân phối hình mẫu cấp I, có thể không phải là những người trực tiếp tạo ra công trình. Khi này câu hỏi “Ai là tác giả chính của công trình?” ngày càng trở nên ít ý nghĩa, bởi công việc này về mặt bản chất cũng đã khó xác định rõ ràng ở ngay tại thời điểm bài tiểu luận này được viết. Một hình mẫu là một sự tích lũy tri thức tập thể và phát triển từ cộng đồng xây dựng đại chúng. Kiến trúc sư, nếu vẫn bám chấp vào khái niệm tác giả và tác phẩm như trong hệ thống giải thưởng, sẽ tự loại mình khỏi thực tại. Vai trò của kiến trúc sư vì thế phải dịch chuyển từ người giải quyết một bài toán đơn lẻ, sang người thiết kế một hệ logic có khả năng nhân bản.
Hình mẫu không phải là bản vẽ kỹ thuật hoàn chỉnh, nó là một thông tin về cảm giác thân mật, ánh sáng & sức khỏe tâm lý, mặt tiền hữu dụng, hoặc thậm chí một chi tiết cấu tạo có thể mô tả bằng lời. Nó cần dễ dàng thực hành như việc giai điệu của một bài hát quen thuộc được nghêu ngao từ một tâm hồn nào đó bên kia hàng rào.
Một hình mẫu tốt không cần được sao chép nguyên xi. Nó có thể chịu được sự biến dạng mà vẫn giữ được phẩm chất, năng lực lõi. Ngược lại, những thiết kế quá “tinh tế” thường sụp đổ ngay khi rời khỏi bàn tay tác giả. Kiến trúc sư phải chấp nhận một sự thật khó chịu: giá trị và sức ảnh hưởng xã hội của kiến trúc không nằm ở độ nguyên bản, mà ở khả năng được hiểu và lặp lại. Sự sáng tạo của kiến trúc sư sẽ nằm ở việc họ có thể "lập trình" ra những nguyên mẫu mới lợi hại, giàu tính năng, cập nhật và vá lỗi cho các nguyên mẫu cũ của chính mình hay một ai khác. Đó sẽ là một sự cạnh tranh sáng tạo hoàn toàn khác trong lịch sử kiến trúc.
-
Khoảng cách về cảm nhận giữa Kiến trúc sư và người bình thường ngày càng rộng không phải do công chúng không hiểu kiến trúc, mà do kiến trúc sư đã lùi ra khỏi quá trình hình thành tri thức tập thể để bảo toàn phẩm giá của mình. Đôi khi tác phẩm của các kiến trúc sư tạo ra vẫn có thể được công chúng góp nhặt nhưng chỉ là hình ảnh bề mặt, vì không kiến trúc sư nào ở đó giải thích bằng ngôn ngữ của họ. Phê phán một hình ảnh mà kiến trúc sư không tham gia trực tiếp vào chuỗi quyết định tạo cho chúng ta một tư thế đạo đức, không phải một hành động kiến trúc. Nó khiến kiến trúc sư trở thành khán giả của chính xã hội kiến trúc mà chúng ta là một phần không thể thoát ly. Nếu kiến trúc sư không tạo ra hình mẫu dễ hiểu, người khác sẽ làm điều đó với một kết quả không thể khác. Và họ đã làm rồi, không phải vì họ giỏi hơn, mà vì họ hiện diện và là một phần của quyết định.
Kiến trúc sư có thể loại trừ trách nhiệm bằng lập luận mình không phải là người quyết định. Nhưng quyền lực trong kiến trúc hiếm khi là quyền ra lệnh. Nó là quyền định hình thói quen bằng không gian và thời gian. Một chi tiết được lặp lại đủ nhiều sẽ trở thành “cách làm khuôn mẫu”. Một nội thất được chấp nhận đủ rộng sẽ trở thành “sự bình thường mới”. Khi kiến trúc sư từ bỏ việc can thiệp vào những tầng thấp đó, chúng ta từ bỏ chính nơi quyền lực vận hành. Kiến trúc sư chưa bao giờ bị tước quyền lực. Chúng ta tự rút khỏi nơi quyền lực thực sự tồn tại, và giờ thì chúng ta không thể chống lại tác động của bối cảnh hiện hành. Ngày nay chúng ta đành phải tạm an ủi và chấp nhận việc “thích ứng với bối cảnh” như một chiến lược tồn tại mới, trong khi giữa thế kỷ trước chúng ta đã từng rất thành công với “chủ nghĩa phê bình khu vực”.
Tri thức bản địa được hình thành bởi thực hành thông qua dân chúng. Những ngôi làng truyền thống, không cần tác giả nhưng có hình thái và cấu trúc chặt chẽ với những vấn đề dân sinh và được hợp lý hóa về mặt mỹ học qua hàng trăm năm. Nó vẫn là cái đẹp sinh ra từ công năng theo cách nói của Sōetsu Yanagi (1889 - 1961): “Nó đẹp bởi không phải do một cá nhân bất kỳ nào tạo ra, nó là một nỗ lực bền bỉ của cộng đồng qua nhiều thế hệ”. Nó không có chức danh kiến trúc sư, nhưng nó có sự cân nhắc của thời gian. Álvaro Siza (1933) cũng đồng thuận rằng: “Kiến trúc tốt chỉ cần một thứ duy nhất là … thời gian.”
Chúng ta khó lòng lưu trữ hay khai quật được một bộ bản vẽ cổ xưa, nhưng chúng ta có thể dể dàng thấy được sự sống động của cuộc sống đã tồn tại qua nhiều thế hệ ở bất cứ đâu trên trái đất này. Dân chúng là người bảo tồn tốt nhất những giá trị sống, mà không một nỗ lực chuyên gia nào có thể làm được.
Sự phân tách kiến trúc sư và phần còn lại của công việc xây cất có thể được xem là một biến cố trong lịch sử, là một sản phẩm của hiện đại hóa, chuyên môn hóa, và của hệ thống pháp lý. Bánh xe lịch sử không thể quay ngược, chúng ta cũng không thể trở lại hình ảnh thô mộc “người thợ cũng là người thiết kế”. Nhưng chúng ta không được phép quên mối quan hệ biện chứng, cộng sinh này. Các kiến trúc sư có thể học được ba điều then chốt từ lịch sử: (1) Tri thức không gian từng là tri thức thực hành, không phải tri thức diễn ngôn ; (2) Hình mẫu từng được truyền qua làm, không qua nói ; (3) Không gian tồn tại được vì nó dễ hiểu đối với người tạo ra nó. Cho nên kiến trúc sư cần tái thiết lập sự liên minh mới với cộng đồng xây dựng đại chúng, không phải bằng quyền lực ngôi sao, mà bằng khả năng diễn giải thực hành cho họ.
-
Chúng ta đã quen đánh giá kiến trúc bằng độ tín của tác giả, độ tinh của ý niệm, độ sâu của diễn ngôn, và độ vững trong các diễn đàn học thuật. Nhưng trong bối cảnh hiện nay, vai trò khả thi nhất của kiến trúc sư không phải là “tác giả” mà là "dịch giả" để: dịch ý niệm thành hình mẫu, dịch lý tưởng thành chi tiết có thể làm, dịch những vấn đề học thuật thành thói quen mới. Nếu hình mẫu đủ tốt và đủ dễ, công chúng sẽ bật chế độ sao chép vô hạn. Bộ mặt kiến trúc sẽ thay đổi, không phải bằng cách mạng, mà bằng lan truyền. Và liệu kiến trúc sư chúng ta có sẵn sàng bọc lót, vá lỗi cho nhau hay không? Kiến trúc Việt Nam chưa bao giờ thiếu tài năng, nhưng nó thiếu một sự nuôi dưỡng tập thể, bởi các hình mẫu có ít khả năng sống sót khi ở ngoài đôi tay của một kiến trúc sư đơn lẻ.
Trong khi chúng ta tranh luận về bản sắc vùng miền, bản sắc tập thể hay bản sắc cá nhân thì đại đa số không gian sống đại chúng được định hình bởi những người không dùng từ “bản sắc” bao giờ. Họ dùng cụm từ “làm thế này quen rồi”, "nhìn không giống ai", “nhà người ta cũng vậy”, “xây vậy cho chắc / cho rẻ”. Chúng ta hay gọi đây là tư duy thỏa hiệp, nhưng nó chính vùng tư duy bắt chước mà chúng ta cần dấn thân và thiết kế lại, nếu không thì mọi phê phán về bộ mặt Kiến trúc Đại chúng chỉ còn là bình luận bên lề.
Kiến trúc sư cần một sự thay đổi trong chiến lược, bởi nếu chúng ta rời bỏ xã hội kiến trúc hay không tạo ra những hình mẫu đủ tốt, thì xã hội sẽ tiếp tục sống cùng những hình mẫu tệ trong nhiều thập kỷ nữa. Tương lai của các thế hệ tiếp theo sẽ bị thứ quyền lực của không gian kém cỏi này định hình lối sống và tâm hồn. Những ngôi nhà vàng mã được chế tạo hàng loạt với một niềm tin sung túc sau khi chết, dương trần sao - âm thế vậy, nhưng nó cũng là một hình ảnh phản chiếu về một chất lượng sống hiện tại của chúng ta, tạm bợ và tùy tiện.