Vua Đồ Cũ Gia Lai

Vua Đồ Cũ Gia Lai Có thể bạn không cần, nhưng người khác cần. Hãy cùng nhau chia sẻ bạn nhé !

Cần thanh lýVua Đồ Cũ Gia Lai
31/03/2025

Cần thanh lý
Vua Đồ Cũ Gia Lai

Ý Nghĩa Số 99 Theo Nhiều Phương Diện Trong Cuộc SốngNếu bạn đang cần một con số may mắn với hy vọng mang đến nhiều tài l...
19/09/2024

Ý Nghĩa Số 99 Theo Nhiều Phương Diện Trong Cuộc Sống

Nếu bạn đang cần một con số may mắn với hy vọng mang đến nhiều tài lộc, phú quý. Thì không còn nghi ngờ gì nữa vì con số 99 chính là con số đầu tiên mà bạn phải tìm hiểu đầu tiên. Đặc biệt là đối với những khách hàng là những nhà kinh doanh, buôn bán hay thương lái thì đây chính là con số mà bạn đang cần. Dưới đây là bài viết để phân tích chi tiết hơn về ý nghĩa số 99 giúp bạn có thể hiểu hơn về những giá trị thực của con số này.

Ý nghĩa con số 99 theo quan niệm dân gian
Số 9 là luôn được cho là một con số biểu hiện cho sức mạnh sự lớn mạnh. Như bạn đã thấy 9 là số lớn nhất có một chữ số hay 99 là số lớn nhất có hai chữ số. Vậy nên việc sở hữu số 9 chính là đại diện cho khát khác vươn lên trở thành kẻ thành công nhất, mạnh nhất, có thể đạt đến đỉnh cao của danh vọng.

Đối với người xưa, con số 9 chính là biểu tượng của sức mạnh, quyền lực và sự vĩnh cửu như chính tên gọi của nó theo tiếng Hán - ‘cửu’. Chính vì thế, con số 9 còn là sự trường thọ - sống lâu trăm tuổi, thọ tỷ nam sơn. Người mang con số 9 bên mình sẽ có được phúc dày mệnh lớn và có thể đạt được thành công trong cuộc sống.

Vậy nên, nếu con số 9 đứng một mình đã đẹp đẽ như vậy thì 99 lại càng được nhân đôi sức mạnh khi kết hợp hai còn số 9 cùng nhau. Người xưa cho rằng, 99 còn được gọi là “đại trường cửu”. Có nghĩa là trường tồn mãnh liệt và vĩnh cửu sông. Nói một cách khác đây là con số của sự hoàn hảo.

Số 99 có ý nghĩa gì trong phong thủy?

Để nắm bắt được ý nghĩa con số 99, chúng ta cần xem xét vấn đề dựa trên nhiều mặt như thông qua phong thủy để biết được giá trị và sự khắc hợp đối với người sở hữu. Bên cạnh đó, đây còn là một góc nhìn vô cùng đáng tin cậy vì được lý luận và kiểm chứng trong một khoảng thời gian rất dài.

Ý nghĩa số 99 trong Kinh Dịch

Trong Kinh dịch thì số 99 tương ứng với quẻ số 1 - Thuần Càn. Đây là Quẻ Đại Cát.

Càn trong Kinh Dịch nghĩa là sáng là hành động sáng tạo. Tượng quẻ Càn là Thiên hành kiện nghĩa là mặt trời đang đến rất nhanh. Cho nên, quẻ Càn là điềm báo của một thời kỳ cực thịnh vượng, lớn mạnh. Đồng thời dự trữ một nguồn năng lượng vô cùng lớn mạnh.

Quẻ Càn sở hữu hai đặc tính sáng suốt và mạnh mẽ. Sáng suốt ở lối hành động. Mạnh mẽ ở khả năng xử lý và hành động. Chính vì vậy mà mọi biến cố, tình huống xảy ra trong thời gian sắp tới sẽ sớm qua đi một cách thuận lời mà không hề gặp bất kỳ khó khăn và thiệt hại nào.

Ý nghĩa số 99 ứng với quẻ Thuần Càn theo Càn đạo. Do đó bạn hãy nên dũng cảm, luôn ở trong tâm thế sẵn sàng để cứ thế mà tiến lên. Luôn luôn xem xét kế hoạch dựa trên hai yếu tố: nguồn lực và hoàn cảnh.

Khi bạn cảm thấy hội tụ đủ 3 yếu tố: Thiên thời - Địa lợi - Nhân hòa mà hành động. Thời điểm hành động không ai khác sẽ được cảm nhận bởi chính bạn. Với sự xuất hiện của Hào Nhị và Hào ngũ đắc trung nên ở hai thời kỳ hay thuộc hai loại người cũng là tốt nhất cho hành động. Hai hào Tam và hào Tứ nên cẩn thận và tùy vào thời điểm có thể tiến hay thoái.

Quẻ 99 hay quẻ Thuần Càn rất tốt trong tất cả mọi việc. Thế nên, trong công việc đặc biệt là kinh doanh thì chúng ta có thể áp dụng quẻ này để tìm ra con đường sáng cho những kế hoạch sắp tới. Không những thế, ở những khía cạnh khác của cuộc sống như đường tình duyên, hôn nhân và gia đình thì đây còn là lá quẻ cải mệnh hay mang đến nhiều duyên tốt đẹp cho bạn và những người xung quanh.

Ý nghĩa con số 99 trong Ngũ Hành

Theo quan niệm ngũ hành, số 99 thuộc hành Kim. Do vậy, những người mang vận mệnh tương hợp với mệnh Kim sẽ khiến cho niềm hạnh phúc và may mắn của họ được nhân đôi. Cùng lúc đó vạn sự hòa hợp và con đường công danh tài vận cũng sẽ được rộng mở và thuận lợi hơn lên rất nhiều.

Ta có thể thấy 2 con số 9 được kết hợp trong cùng một bộ số đồng mệnh. Do vậy, sức mạnh của nó sẽ được nhân đôi lên theo bình phường của nó. Với mối quan hệ tương hỗ, Kim sinh Thủy cho thấy những người mệnh Thủy rất phù hợp với 99. Thông qua những khía cạnh tương hợp, con số này sẽ mang lại đến nhiều vận may, kích tài lộc và mở rộng con đường thăng quan tiến chức của mình. Đồng thời, 99 cũng mang đến cho bạn sự hanh thông và nhiều cơ hội để tìm kiếm hạnh phúc.

Trái lại, Kim khắc Mộc thì con số 99 không hẳn con số ý nghĩa đối với họ. Ngược lại, họ nên tránh sử dụng hay tiếp xúc với con số này. Để hạn chế tiếp thu những nguồn năng lượng tiêu cực của nó. Nếu bạn vẫn muốn sử dụng con số này thì cần biết cách kết hợp với những con số khác để cải biến thành những giá trị phù hợp và tích cực hơn. Đồng thời, sẽ hạn chế được những vấn đề không đáng có.

Ý nghĩa con số 99 theo quan niệm đời thường như thế nào?
Theo quan niệm phương Tây, người sở hữu con số này hầu hết là những người rất tự tin, thẳng thắn và rất có chính kiến. Chính vì thế, đây là những nhà lãnh đạo tương lai với những quyết định vô cùng chắc chắn và quyết đoán.

Bên cạnh đó, theo thuyết m Dương số 99 là tập hợp của 2 chữ số lẻ lớn nhất. Nói cách khác, chính vì thế mà con số này cực kì vượng Dương mà âm dương thì dễ thu hút, bổ sung cho nhau. Vậy nên, con số này phù hợp với người mang mệnh âm, có thể là nữ giới hay những người mang những nét tính cách quá hiền hòa, luôn sợ hãi hay do dự thì đều có thể sử dụng con số này. Bên cạnh đó, nếu bạn cần nhiều hơn những sự may mắn và động lực thúc đẩy thì 99 sẽ là con số phù hợp với bạn trong thời điểm này.

Bên cạnh đó theo Cửu tinh đồ pháp, số 9 ứng với chòm sao Cửu Tử. Đây là một trong những chòm sao của những điều tốt lành, may mắn trong tương lai. Mặt khác khi vận dụng vào biểu đồ sao của giai đoạn những năm nên 2024 đến 2043, thì bạn sẽ được thừa hưởng một nguồn năng lượng vô cùng tốt của con số này trên bất cứ lĩnh vực, mong muốn nào.

Số 99 phù hợp với những ai?

Số 99 luôn được mọi người yêu mến. Do vậy mà nhiều người mong muốn sở hữu cho mình những đồ vật liên quan đến số 99 như số xe, số nhà, căn hộ và số điện thoại. nhiều người yêu thích. Vậy những ai phù hợp với con số hấp dẫn này.

PS: Một phát hiện mới trong thiết kế chiếc ghé COZI này:
1. Phần đáy có 5 sọc tượng trưng cho: NGŨ PHÚC
2. Phần thân có 9 sọc x 4, đếm kiểu gì cũng ra 9.

Ngũ Phúc là một từ nguyên ở trong thiên "Hồng Phạm" của Kinh Thư, (tức là bộ sách do Khổng tử và các đệ tử san định, sưu...
19/09/2024

Ngũ Phúc là một từ nguyên ở trong thiên "Hồng Phạm" của Kinh Thư, (tức là bộ sách do Khổng tử và các đệ tử san định, sưu tập và dẫn giải 305 bài gồm phong dao bình dân (phong) cũng như những ca từ của giới quý tộc (nhã và tụng) của các nước nhỏ từ 2500 năm trước ở Trung Quốc) thì ngũ phúc gồm: thọ (sống lâu), phú (giàu có); khang ninh (yên lành); du hảo đức (có đức tốt); và khảo chung mệnh (thọ hết tuổi trời).

Trường thọ là không bị chết non, phúc thọ là lâu dài
Phú quý là tiền của rất nhiều, địa vị tôn quý.
Khang ninh là thân thể khoẻ mạnh, tâm hồn yên ổn.
Hiếu đức là tính lương thiện, nhân hậu, bình tĩnh.
Thiện chung là có thể tiên liệu thời kỳ chết của mình. Khi lâm chung không gặp tai họa, thân thể không đau đớn vì bệnh tật, trong lòng không vương vấn và phiền não, ôn hoà tự tại rời khỏi nhân gian.

Có thể bạn chưa biết về "Cái Mõ""Cái Mõ" thường dùng để tụng kinh ở Chùa hay ở những buổi lễ Phật, là một huyền-thoại mà...
19/09/2024

Có thể bạn chưa biết về "Cái Mõ"

"Cái Mõ" thường dùng để tụng kinh ở Chùa hay ở những buổi lễ Phật, là một huyền-thoại mà dường-như ít người Việt được nghe nói đến.

"Cái Mõ", hồi xưa có tên đầy đủ là "Cái Mõ-Cá".
Dấu-vết còn thấy ở câu thơ: "Sớm khua Mõ-cá, tối kêu Chuông-kình"

Ở Nhật, "cái Mõ" được gọi là "Mokugyo-木魚", có nghĩa là "Cá Gỗ", vì nó được làm bằng gỗ và có cái hình thù giống hình con cá đang há mồm, (Theo Âm-học: phải có khe như vậy tiếng gõ vào mới kêu vang)

Có lẽ người Nhật, đã sáng-chế và đặt tên.

Không chắc lắm, nhưng suy diễn từ việc, thế giới thường biết đến với cái tên Nhật "Mokugyo" này. Và chỉ ở Nhật, ta mới thấy nguyên hình con-cá-gỗ treo làm Mõ.

Ở đó cũng còn có những cái Mõ rất khủng nữa (x.hình mõ khủng).
"Cá Gỗ" ở Hàn-quốc có tên là "Moktak",
Tiếng Hán là "Muyu",
Tiếng Hán-giọng-Việt là "Mộc-Ngư",
Tiếng Việt dịch là "Cá-Mộc", nói trại là "MÕ-CÁ",
và cuối cùng nói tắt là "MÕ"

Tiếng Việt kỳ diệuHai dân tộc Kinh Việt Nam và Hán Trung Quốc (TQ) có nhiều điểm giống và khác nhau. Trong 1000 năm Bắc ...
19/09/2024

Tiếng Việt kỳ diệu

Hai dân tộc Kinh Việt Nam và Hán Trung Quốc (TQ) có nhiều điểm giống và khác nhau. Trong 1000 năm Bắc thuộc, nước ta bị Hán hóa toàn diện, các khác biệt bị xói mòn rất nhiều, kể cả về huyết thống. May sao tổ tiên ta vẫn giữ được một khác biệt căn bản nhất – ngôn ngữ. Giữ được thế cũng là nhờ tiếng Việt tiềm ẩn những tính năng kỳ diệu, chẳng hạn ngữ âm cực kỳ phong phú, có thể ghi âm hầu như mọi ngữ âm ngoại ngữ.

Sau 1.000 năm bị Hán hóa, ngôn ngữ Việt chấp nhận chữ Hán nhưng cấm cửa tiếng Hán. Tổ tiên ta đã nghĩ ra cách đọc chữ Hán bằng tiếng Việt (gọi là từ Hán-Việt) mà không đọc bằng tiếng Hán, tức Việt Nam hóa phần ngữ âm của chữ Hán, biến thành chữ của mình, gọi là chữ Nho với ý nghĩa “Chữ của người có học”. Chữ Nho chính là chữ Hán đượcphiên âm ra tiếng Việt, vì thế dễ học hơn. Tổ tiên ta có thể dùng chữ Nho bút đàm giao dịch với quan chức chính quyền chiếm đóng, đạt được yêu cầu bắt dân ta học chữ của chúng. Rốt cuộc người Việt có chữ để ghi chép và giao tiếp nhưng vẫn đời đời nói tiếng mẹ đẻ, không ai nói tiếng Hán. Mưu toan Hán hóa ngôn ngữ hoàn toàn thất bại.

Bài đang hot
Tại sao bầu cử Tổng thống Mỹ lại quan trọng đối với châu Âu?
Giữ được nguyên vẹn tiếng mẹ đẻ và nhờ đó giữ được nòi giống và đất nước mình — đây là thắng lợi vĩ đại nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Nói theo ngôn ngữ học hiện đại, là tổ tiên ta đã biết lợi dụng đặc điểm ghi ý không ghi âm của chữ Hán để đọc chữ Hán bằng bản ngữ. Chữ Nho đã thầm lặng vô hiệu hóa quá trình Hán hóa ngôn ngữ. Từ Hán-Việt đã giúp kho tàng từ vựng tiếng Việt phong phú thêm nhiều lần cả về số lượng và mỹ cảm. Cho dù khoảng 60% từ vựng tiếng Việt hiện nay có gốc Hán ngữ nhưng đó chỉ là hiện tượng giao thoa ngôn ngữ bình thường. Chẳng hạn tại TQ, khoảng 70% từ ngữ tiếng Hán hiện đại có gốc tiếng Nhật.

Để sửa nhược điểm chữ Nho không ghi được tiếng Việt, vào khoảng thế kỷ 12 tổ tiên ta làm một thử nghiệm ngôn ngữ táo bạo: sáng tạo chữ Nôm có yếu tố biểu âm, ghi được tiếng Việt. Chữ Nôm cấu tạo trên nền tảng chữ Hán, biết chữ Hán mới học được chữ Nôm, vì vậy phụ thuộc Hán ngữ và khó phổ cập, lại chưa được nhà nước công nhận, thời gian tồn tại quá ngắn so với chữ Nho. Tuy vậy, do văn thơ chữ Nôm thể hiện được tiếng nói và nỗi lòng của người bình dân nên đã tạo dựng được một nền văn học mới trội hơn hẳn văn học chữ Nho, mở ra một giai đoạn phát triển rực rỡ nền văn hóa Việt. Thử nghiệm này còn hé lộ một tiềm năng cực kỳ quý giá của tiếng Việt — thích hợp chữ biểu âm(phonograph). Đây là điều kiện tất yếu để 5 thế kỷ sau các giáo sĩ Francesco de Pina, Cristoforo Borri, Alexandre de Rhodes…làm được chữ biểu âm Latin hóa cho tiếng Việt. Giả thử các giáo sĩ-bậc thầy ngôn ngữ học ấy đến TQ làm chữ biểu âm cho tiếng Hán thì chắc chắn họ sẽ thất bại, bởi lẽ tiếng Hán không thích hợp chữ biểu âm.

Với hai ưu điểm quý giá –– biểu âm và Latin hóa, chữ Quốc ngữ đã làm thay đổi hẳn đời sống ngôn ngữ, văn hóa, xã hội nước ta, mở ra một kỷ nguyên mới cho nền văn minh Việt. Loại chữ này ghi âm được 100% tiếng Việt, thực hiện nói/nghĩ thế nào viết thế ấy, viết thế nào đọc thế ấy, lại dễ học dễ dùng chưa từng thấy. Giới tinh hoa nước ta ca ngợiChữ Quốc ngữ là hồn đất nước.

Nói chữ biểu âm Latin hóa là loại chữ viết tiên tiến chắc sẽ bị những người theo “Thuyết chữ Hán ưu việt” phủ định, nhưng lại được hai sự việc sau khẳng định: 1) Người TQ từng bỏ ra ngót 100 năm thực thi cải cách chữ viết theo hướng làm chữ biểu âm Latin hóa thay cho chữ Hán. 2) Toàn bộ 14 phương án chữ viết do Nhà nước TQ sau năm 1949 làm cho 10 dân tộc thiểu số chưa có chữ đều dùng chữ biểu âm Latin hóa. Dân tộc Tráng từ xưa đã có chữ vuông kiểu chữ Nôm, Nhà nước vẫn làm chữ mới biểu âm Latin hóa cho họ.

Chữ Quốc ngữ đã thúc đẩy nền văn minh Việt phát triển với tốc độ gấp trăm lần quá khứ. Thứ chữ này nhanh chóng được toàn dân chào đón và học tập, vừa nâng cao dân trí vừa có tác dụng thống nhất âm tiếng Việt trong cả nước, qua đó góp phần thống nhất dân tộc. Dùng chữ Quốc ngữ có thể dịch các từ ngữ Hán hoặc Nôm và ngoại văn ra tiếng Việt, nhờ thế dân ta được tiếp xúc với kho tàng văn hóa của tổ tiên, các trào lưu tư tưởng mới và khoa học kỹ thuật phương Tây. Các lĩnh vực văn học, giáo dục, nghệ thuật, báo chí, xuất bản nhanh chóng hình thành và phát triển, vượt xa mấy nghìn năm cũ. Cây văn hóa Việt Nam vươn cao, thoát khỏi nguy cơ còi cọc vì cớm nắng do ở cạnh đại thụ văn hóa Trung Hoa. Phạm Quỳnh nói Chữ Quốc ngữ là công cụ kỳ diệu giải phóng trí tuệ người Việt. Đúng thế, dùng chữ Quốc ngữ có thể ghi lại mọi ý nghĩ, không bị gián đoạn do phải tra tìm chữ như khi dùng chữ Hán, chữ Nôm. Trí tuệ được giải phóng dẫn đến sự hình thành một tầng lớp trí thức tân tiến. Do chữ cái Latin dùng được kỹ thuật in chữ rời, các sách báo, ấn phẩm đua nhau xuất bản. Các tổ chức cách mạng đều dùng chữ Quốc ngữ để tuyên truyền tư tưởng yêu nước chống thực dân phong kiến.

Chữ Quốc ngữ làm cho tiếng Việt trở thành ngôn ngữ hoàn toàn độc lập với Hán ngữ. Thời xưa Việt Nam, Nhật, bán đảo Triều Tiên đều dùng chữ Hán; khi thấy mặt hạn chế của nó, cả ba đều cố “Thoát Hán” về ngôn ngữ. Bán đảo Triều Tiên thế kỷ 15 làm chữ biểu âm Hangul, nhưng Hàn Quốc hiện vẫn phải dùng chữ Hán để chú giải các từ ngữ cần chính xác (như về pháp lý). Người Nhật thế kỷ 9 làm chữ biểu âm Kana, nhưng hiện vẫn dùng gần 2000 chữ Hán. Riêng Việt Nam nhờ dùng chữ Quốc ngữ mà từ năm 1919 chính thức bỏ chữ Hán. Quá trình “Thoát Hán -Thoát Khổng” này nhanh gọn, không gây ra sự đứt gãy văn hóa, là một thắng lợi văn hóa-tư tưởng cực kỳ quan trọng của dân tộc ta.

Hán ngữ nhìn từ tiếng Việt

Sau khi tiếp xúc phương Tây, giới tinh hoa TQ nhận ra các nhược điểm nghiêm trọng của chữ Hán. Từ cuối thế kỷ 19, họ bắt đầu nghiên cứu cải cách Hán ngữ theo hướng phiên âm hóa chữ Hán do nhà truyền giáo người Ý Matteo Ricci đề ra năm 1605. Đầu tiên họ làm ra chữ thiết âm (1892), đến 1911 đã đề ra 28 phương án chữ phiên âm. Thời Ngũ Tứ, nhiều học giả đòi bỏ chữ Hán, dùng chữ phiên âm. Năm 1918, TQ ban hành phương án “Chú âm Tự mẫu” dùng 39 chữ cái ghi âm Hán ngữ, là công cụ để nghiên cứu phần ngữ âm tiếng Hán. Phương án này hiện vẫn dùng ở Đài Loan và trong các tự điển của TQ.

Năm 1952, Mao Trạch Đông chỉ thị cải cách chữ Hán phải theo xu hướng phiên âm chung của thế giới. Năm 1954 TQ lập Ủy ban Cải cách chữ viết, tiến hành cải cách chữ Hán với quy mô lớn chưa từng có. Ngô Ngọc Chương, Chủ nhiệm Ủy ban, nói: TQ sau này sớm muộn sẽ phải chuyển sang dùng chữ phiên âm (tức chữ biểu âm), đây là quy luật khách quan phát triển chữ viết của thế giới; nhưng TQ không chủ trương bỏ chữ Hán…

Cải cách chữ viết đã đạt được thành tựu quan trọng: – Đơn giản hóa (bớt nét) được vài nghìn chữ Hán để chữ trở nên dễ học dễ nhớ; – Làm ra Phương án Pinyin Hán ngữ dùng chữ cái Latin có thể ghi chú âm (phiên âm) cho chữ Hán, mã hóa chữ Hán đưa vào máy tính, đánh chữ trên máy tính và smartphone, quốc tế hóa chữ Hán; – Chuẩn hóa chữ Hán, xác định Tiếng Phổ thông (Standard Mandarin) là tiếng nói của toàn dân. Các thành tựu trên đã được luật hóa và áp dụng trong cả nước, giúp nâng cao tỷ lệ biết chữ, thống nhất ngôn ngữ. Hiện nay TQ đã áp dụng rộng rãi chế độ “Nhất ngữ Song văn”(Một tiếng nói, hai chữ viết): Toàn dân nói một thứ tiếng Phổ thông; chữ Hán là chữ viết pháp định, vẫn dùng như cũ, kèm theo dùng chữ Pinyin Hán ngữ để ghi âm chữ Hán.

Từ 1986, Ủy ban Cải cách chữ viết TQ ngừng đặt vấn đề làm chữ biểu âm thay chữ Hán, và nói tương lai chữ Hán sẽ do các thế hệ sau quyết định. Nghĩa là rốt cuộc TQ đã không đạt được mục tiêu tạo ra loại chữ biểu âm thay cho chữ Hán.

Ở đây có hai vấn đề: có nên bỏ chữ Hán không và có thể làm được chữ biểu âm cho Hán ngữ không. Rõ ràng, bỏ chữ Hán sẽ gây thảm họa bỏ mất di sản vĩ đại của nền văn minh Trung Hoa 5.000 năm; 1,4 tỷ người Hoa không thể chấp nhận. Mặt khác, việc làm chữ biểu âm có nhiều khó khăn, chủ yếu do Hán ngữ có quá nhiều chữ hoặc từ đồng âm.

Chữ/từ đồng âm (homophonic words) là những chữ/từ khác nhau về tự hình và ý nghĩa nhưng đọc cùng âm, do đó mỗi chữ/từ có nhiều ý nghĩa khác nhau, khi nghe đọc hoặc khi dùng chữ biểu âm sẽ không phân biệt được, gây hiểu lầm. Chữ đồng âm dẫn tới cụm từ đồng âm, làm cho ngôn ngữ kém chính xác. Đây là vấn đề của Hán ngữ chứ không phải của chữ Hán. Một ngôn ngữ chính xác thì không nên có chữ/từ đồng âm, nhưng thực tế ngôn ngữ nào cũng ít nhiều có hiện tượng này. Khi có nhiều chữ/từ đồng âm thì không thể dùng chữ biểu âm –– vì nhìn chữ sẽ chẳng hiểu gì. Như câu他 叫 她 跟 它 走khi nhìn chữ Hán (chữ biểu ý, ideograph) thì có thể hiểu ý nghĩa, nhưng nhìn chữ biểu âm Ta jiao ta gen ta zou thì chẳng thể hiểu, vì ba chữ 他, 她, 它 (he, she, it) cùng đọc [ta]. Đoạn văn 施氏食狮史 cho thấy rõ nạn nhiều chữ/từ đồng âm đã giết chết chữ biểu âm.

Tổ tiên người TQ hiểu lẽ đó nên đã làm chữ viết có tính biểu ý (tức chữ Hán) mà không làm chữ biểu âm. Thế nhưng hiện nay một số học giả TQ vẫn hy vọng giải quyết được vấn đề chữ đồng âm và do đó làm được chữ biểu âm cho Hán ngữ.

Qua nghiên cứu tiếng Hán từ trên nền tảng tiếng Việt, chúng tôi cho rằng hy vọng nói trên là không hiện thực. Ngay từ năm 1954 Ủy ban Cải cách chữ viết TQ đã đặt nhiệm vụ tham khảo chữ Quốc ngữ Việt Nam. Nhưng năm 2009 một học giả hàng đầu TQ chê bai: “Chữ viết của Việt Nam sau khi phiên âm hóa, đầu đội mũ, chân đi giày, rất nực cười.”Do nhìn chữ Quốc ngữ với con mắt trọng tự hình, nhẹ ngữ âm nên họ chỉ thấy “giày, mũ” mà chưa thấy một điều quan trọng: tiếng Việt giàu âm tiết, tiếng Hán nghèo âm tiết, do đó Hán ngữ có quá nhiều chữ đồng âm, hậu quả là không làm được chữ biểu âm.

“Nghèo âm tiết” là nói số âm tiết của ngôn ngữ đó nhỏ hơn số đơn từ thông dụng.

Để xác minh Hán ngữ nghèo âm tiết, chúng tôi đã dùng “Tự điển Tân Hoa” bản thứ 10 新华字典第10版 双色本 (có 8.700 đơn tự) để thống kê số âm tiết có trong tự điển, kết quả được 415 âm tiết không xét thanh điệu, gồm 22 âm tiết có một chữ, 393 âm tiết có 2 chữ trở lên (tức có chữ đồng âm); đổ đồng mỗi âm tiết có 22 chữ đồng âm. Một số âm tiết có quá nhiều chữ đồng âm: [yi] có 135, [ji] – 123, [yu] – 118, [xi] – 103,…. So với 8.105 chữ thông dụng Nhà nước TQ quy định thì 415 âm tiết rõ ràng là nghèo âm tiết

Số liệu trên không khác với số liệu của TQ.[1] Li Gong-Yi dựa “Hán tự Tin tức tự điển” (7.785 đơn tự) thống kê, được414 âm tiết không xét thanh điệu, gồm 22 âm tiết có một chữ, 392 âm tiết có chữ đồng âm; [yi] có 131, [ji] – 121, [yu] – 115, [xi] – 102, [fu] – 99 chữ. Khi thống kê theo “Từ Hải” (19.485 đơn tự), âm [yì] (khứ thanh) có 195 chữ! Thống kê âm tiết có xét thanh điệu thì tiếng Hán có khoảng 1.400 âm tiết –– so với 8105 chữ thông dụng thì vẫn là quá nghèo âm tiết. Nếu xét toàn kho chữ Hán có khoảng 100 nghìn chữ (và không ngừng tăng) thì số chữ đồng âm quá nhiều.

Dễ thấy tiếng Việt giàu âm tiết: có 11 âm ă, â, b, đ, gh, ô, ơ, ư, v, ng, nh mà tiếng Hán không có; về thanh điệu tiếng ta có 6, tiếng Hán 4. Thống kê âm tiết (không xét thanh điệu) bắt đầu bằng nguyên âm A: tiếng ta có 27, tiếng Hán có 5 âm tiết.[2] Hơn nữa tiếng ta có nhiều âm tiết chưa dùng, như đỉu, đĩu, bỉa, bĩa… Hiện chưa có số liệu âm tiết tiếng Việt do Nhà nước công bố. Một công bố trên mạng cho biết tiếng Việt có 17.974 âm tiết, trong đó quá nửa chưa dùng. Một công bố khác nói có hơn 6.000 âm tiết đã dùng.

Tiếng Hán và tiếng Việt thuộc loại ngôn ngữ đơn âm tiết (đơn lập, monosyllabic), mỗi tiếng một âm tiết, do đó cần dùng rất nhiều âm tiết, vì thế dễ xảy ra nạn lắm chữ/từ đồng âm. Như đã nói, tiếng Việt giàu âm tiết nên không có nạn đồng âm, do đó làm được chữ biểu âm; tiếng Hán nghèo âm tiết nên có nạn đồng âm nghiêm trọng, do đó không làm được chữ biểu âm. Theo chúng tôi, chừng nào Hán ngữ còn là ngôn ngữ đơn lập và nghèo âm tiết thì còn chưa thể làm chữ biểu âm, suy ra không thể thay được chữ Hán. Kết luận này dường như không hợp với quan điểm của một số học giả TQ.

Đặc điểm của ngôn ngữ đa âm tiết

Có một sự thực khó hiểu: tiếng Nhật ít âm tiết hơn tiếng Hán (100 so với 415) mà vẫn làm được chữ biểu âm Kana –– điều đó chứng tỏ tiếng Nhật có số đơn từ khác âm nhiều hơn số đơn từ thông dụng.

Như đã biết, tiếng Nhật thuộc loại ngôn ngữ đa âm tiết (đa lập, multisyllabic), ví dụ từ samurai và Hiroshima có 3 và 4 âm tiết.

Trong ngôn ngữ đa âm tiết, mỗi đơn từ có thể là một chỉnh hợp (arrangement, tức tổ hợp có phân biệt thứ tự) gồm ít nhất 2 âm tiết khác nhau. Sau đây sẽ dùng toán học để chứng minh kết cấu chỉnh hợp có khả năng tạo ra tổng số đơn từ lớn hơn tổng số âm tiết của ngôn ngữ. Khi ấy được bài toán tính số chỉnh hợp chập k của một tập hợp chứa n phần tử. nlà lượng âm tiết của ngôn ngữ; k là số âm tiết khác nhau trong một đơn từ, A là số lượng các chỉnh hợp (đơn từ) tạo ra từ n âm tiết. Kết quả A bằng n giai thừa (factorial) chia cho (n – k) giai thừa:

A (n, k) = n! / (n-k)!

Rõ ràng A lớn hơn n rất nhiều; k càng lớn thì A càng lớn. Khi k=2 thì A= (n-1) n ; khi k=3 thì A=(n-2) (n-1) n…

Tóm lại, kết cấu chỉnh hợp có ưu điểm tạo ra số lượng đơn từ rất lớn, khiến cho ngôn ngữ nghèo âm tiết vẫn làm được chữ biểu âm (chẳng hạn tiếng Nhật).

Ví dụ một ngôn ngữ có 415 âm tiết (n = 415), khi mỗi đơn từ là một chỉnh hợp 2 âm tiết (k = 2, như city, семья) thì tổng số đơn từ A sẽ bằng (415-1)(415), tức 171810 đơn từ, quá nhiều so với 415 âm tiết. Khi k = 3 (như minister, привычка) được 70957530 đơn từ.

Giả thử Hán ngữ là ngôn ngữ đa âm tiết, mỗi từ 2 âm tiết, thì do có 171810 đơn từ nên không có chữ đồng âm. Tiếc rằng không thể cải tạo ngôn ngữ đơn âm tiết thành đa âm tiết. Người Nhật có thể chỉ dùng chữ Kana mà không dùng chữ Hán, nhưng vì để thừa kế di sản văn hóa cổ mà hiện nay họ vẫn dùng gần 2000 chữ Hán kết hợp với chữ Kana.

Kết luận

Các trình bày nói trên đã chứng minh hai luận điểm của tác giả:

1– Ngôn ngữ đơn lập nếu nghèo âm tiết thì không thể làm được chữ biểu âm, nếu giàu âm tiết thì làm được chữ biểu âm.

2– Ngôn ngữ đa lập dù nghèo âm tiết vẫn có thể làm được chữ biểu âm.

Từ đó giải đáp được các câu hỏi vì sao cùng là ngôn ngữ đơn lập mà tiếng Việt làm được chữ biểu âm còn tiếng Hán thì không; vì sao tiếng Nhật rất nghèo âm tiết lại làm được chữ biểu âm; vì sao phần lớn các nước đều dùng ngôn ngữ đa lập và chữ biểu âm.

Xin nói thêm: cho dù hiện nay chữ Hán vẫn bị phê phán, song cần thấy rằng chữ Hán là lựa chọn hợp lý của tổ tiên người TQ. Chữ Hán có tính biểu ý thích hợp với một đất nước quá rộng và đông dân, nói hàng trăm phương ngữ khác nhau, hơn nữa ngôn ngữ nói có quá nhiều chữ/từ đồng âm, nếu chỉ dựa vào thính giác thì rất khó phân biệt (nhưng không thể tránh được tình trạng này, bởi lẽ Hán ngữ nghèo âm tiết). Những lý do ấy không cho phép Hán ngữ dùng chữ biểu âm; từ đó suy ra chữ Hán sẽ không thể bị thay thế, –– nghĩa là chữ Hán sẽ không bao giờ bị từ bỏ. Giới học giả TQ ngày nay chấp nhận quan điểm Chữ Hán là báu vật của văn minh cổ đại lại là gánh nặng của văn minh hiện đại, nhưng người Trung Quốc sẽ không vì mang gánh nặng ấy mà tiến chậm trên con đường hiện đại hóa, bởi lẽ họ nổi tiếng cần cù, chịu khó, chịu khổ lại được tiếp nguồn sức mạnh to lớn của nền văn minh Trung Hoa 5.000 năm.

Tác giả: Nguyễn Hải Hoành Tiếng Việt kỳ diệu Hai dân tộc Kinh Việt Nam và Hán Trung Quốc (TQ) có nhiều điểm giống và khác nhau. Trong 1000 năm Bắc thuộc, nước ta bị Hán hóa toàn diện, các khác biệt bị xói mòn rất nhiều, kể cả về huy...

Nguồn gốc từ "OK"OK là một từ phổ biến rộng khắp thế giới, hầu như ai cũng biết ý nghĩa của nó - nhưng nguồn gốc của từ ...
19/09/2024

Nguồn gốc từ "OK"
OK là một từ phổ biến rộng khắp thế giới, hầu như ai cũng biết ý nghĩa của nó - nhưng nguồn gốc của từ OK lại là một câu chuyện thú vị khác mà không phải ai cũng biết.
OK trong tiếng Việt tất nhiên là có nguồn gốc vay mượn từ tiếng nước ngoài thì chắc ai cũng biết (có thể nói là do người Pháp mang đến), nhưng gốc gác của nó là từ Mỹ.
_-*-_
OK thực sự bắt nguồn từ mốt viết tắt có chủ ý viết sai chính tả vào những năm 1830. Những “trí thức” trẻ tuổi ở Boston đã gửi những thông điệp được mã hóa kiểu thời thượng như KC, hay “knuff ced”, KY, “know yuse” và OW, “oll wright”, OK, hay “oll korreg”.
Đến ngày 23/3/1839, cụm từ "OK" chính thức được công nhận trên mặt báo của tờ Boston Morning Post. Bắt đầu từ đó, hàng loạt tờ báo bắt đầu sử dụng "OK" và chúng trở nên phổ biến trên toàn nước Mỹ.
Thậm chí, Tổng thống thứ 8 của Mỹ là Martin Van Buren cũng đã dùng từ "OK" làm khẩu hiệu cho chiến dịch tranh cử lần 2 của mình vào năm 1841. Do sinh ra tại thị trấn Kinderhook thuộc New York nên Tổng thống Buren đã dùng khẩu hiệu: "Old Kinderhook was ‘oll korrect’".
Trong khi những từ viết tắt khác của tầng lớp tinh anh Boston dần biến mất theo thời gian thì "OK" lại phát triển mạnh, nhất là sau khi máy điện tín ra đời vào năm 1844, chỉ 5 năm sau khi báo chí sử dụng từ "OK". Nó truyền các tin nhắn ngắn dưới dạng xung điện, với sự kết hợp của các dấu chấm và dấu gạch ngang tượng trưng cho các chữ cái trong bảng chữ cái.
Đây là thời điểm OK tỏa sáng. Hai chữ cái rất dễ gõ ra và rất khó có thể xuất hiện nhầm lẫn với bất cứ điều gì khác. Thậm chí trong bản hướng dẫn điện tín phát hành năm 1865 còn quy định “không có thông điệp nào được coi là đã được truyền đi cho đến khi văn phòng nhận nó đưa ra thông báo OK”.
Ngoài ra còn có lý do OK được phổ biến đó là nhờ hình dáng và âm thanh của chữ K. Chữ K trong tiếng Anh thực sự không phổ biến - nó đứng thứ 22 trong bảng chữ cái. Sự hiếm có đó đã thúc đẩy phong trào “Kraze for K” trong quảng cáo và in ấn, nơi các công ty thay thế chữ C cứng bằng chữ K để thu hút sự chú ý, như Krispy-Kreme và Kool-Aid. Chính chữ K khiến nó trở nên đáng nhớ.
__________________
P/S: Ngoài biểu hiện bằng chữ viết, OK cũng thường được biểu thị bằng dấu tay: ngón cái và ngón trỏ ghép lại tạo hình tròn biểu thị chữ O (*) và ba ngón còn lại xoè rộng ra biểu thị chữ K (*) (*: cách biểu thị chữ cái bằng dấu tay theo ngôn ngữ ký hiệu Mỹ cho người khiếm thính) - như hình ảnh minh họa.
Vốn dĩ ngôn ngữ ký hiệu chỉ quy định dấu tay cho từng chữ cái - nhưng cách ghép chữ như trên cũng rất hợp lý và dễ hiểu. Cách ghép chữ tạo dấu tay OK này được sử đầu tiên bởi những người thợ lặn (vì tất nhiên khi ở dưới nước không thể nói được - dùng cách này để xác nhận một điều gì đó đã "OK" là rất tiện.
Tuy nhiên, cũng lưu ý rằng mặc dù chữ OK được phổ biến và được hiểu thống nhất trên toàn thế giới - nhưng cách ra dấu tay (như trong ảnh) mặc dù cũng khá phổ biến nhưng có thể mang ý nghĩa khác ở những nơi khác nhau - ví dụ trong thế giới Ả rập thì dấu hiệu tay này (thực ra là gần giống) mang nghĩa xấu nên cần lưu ý tránh hiểu nhầm không cần thiết.

Care:

Chúng ta thường nghe câu thành ngữ ví von "cùng một giuộc" - có thể bạn đã hiểu thành ngữ này hàm ý là gì - nhưng bạn có...
19/09/2024

Chúng ta thường nghe câu thành ngữ ví von "cùng một giuộc" - có thể bạn đã hiểu thành ngữ này hàm ý là gì - nhưng bạn có biết nguồn gốc ý nghĩa của nó?
"GIUỘC" trong cụm từ này là gì, có ý nghĩa như thế nào?
(Cũng có nơi gọi là duộc/cùng một duộc: là một biến âm của giuộc - tuy nhiên "giuộc" vẫn được dùng rộng rãi, phổ biến hơn).
Xin mời xem phần minh giải phía sau:
_____
1. Về câu thành ngữ trên:
"Cùng một giuộc" có nghĩa là những người có cùng một âm mưu, mục đích, hành động, phong cách hoặc nhân cách (thường được hiểu theo nghĩa xấu/tiêu cực) mặc dù thái độ, vẻ ngoài thì có vẻ khác nhau (có thể khiến cho người khác không dễ nhận thấy họ giống nhau).
2. Vậy còn "GIUỘC" nghĩa là gì?
2.1. Định nghĩa
"giuộc": đồ dùng thường bằng tre, gỗ (*) hay kim loại (*), có cán dài dọc theo phần thân thường hình ống (**), để đong, múc chất lỏng (nước, rượu, dầu, nước mắm...) trong vật đựng có đáy sâu. (Ví dụ đong múc từ thùng/chum/vại để rót ra can nhỏ/chai/nậm/cốc/chén/ly).
* Có thể thấy, từ giuộc với nghĩa gốc chỉ dụng cụ như trên là từ cổ, ngày nay không thấy dùng phổ biến (không dùng hoặc ít dùng). Ngày nay từ giuộc chỉ thấy được dùng phổ biến trong cụm từ/thành ngữ "cùng một giuộc".
* Thời nay, một số trường hợp giuộc bị gọi tên thay thế là "giá/gáo/muỗng/muôi"..vv (là những vật dụng tương tự, không chính xác nhưng cũng giúp người đọc/nghe hiểu được - ví dụ một số người bán hàng online, bán cái giuộc nhưng không biết tên chính xác của nó, đành gọi tên thay thế).
2.2. Chú giải định nghĩa:
(*): Vật liệu truyền thống và từ xa xưa làm giuộc bằng tre. Sau có tạo sử dụng vật liệu khác như gỗ, và hiện đại hơn là kim loại (sắt tây, nhôm, inox...). Xem thêm hình minh họa
(**): Về hình dạng: (xem thêm hình minh họa)
a. Chính vì nguồn gốc từ tre, nên phần chứa chất lỏng của giuộc có hình ống (chính là một đoạn của đốt tre, phía dưới có mấu làm đáy, phần cán phía trên chính là một phần được giữ lại của ống tre). Sau đó các vật liệu khác cũng làm theo hình dạng ống như vậy (cũng có thể là dễ chế tạo hơn).
b. Phần cán của giuộc hướng thẳng đứng lên trên (dọc theo phần thân hình ống) - phân biệt với cái gáo múc nước - có phần cán nằm ngang so với thân gáo. Vì vậy, gáo chỉ dùng để múc ở vật chứa có miệng rộng, và không có độ chính xác cao (khi hơi nghiêng gáo là bị vãi ra ngoài).
Còn giuộc theo phương đứng, giúp việc lấy, múc chất lỏng từ bình chứa sâu, miệng hẹp dễ dàng hơn và khi hình dạng thẳng đứng cũng giúp định lượng chính xác hơn.
==========
3. Ví dụ và diễn giải:
3.1. Ví dụ 1: cùng giuộc = giống về lượng.
Ví dụ như múc nước mắm từ trong chum, thùng ra để chiết vào vật đựng nhỏ hơn như chai, can... thì đong bằng giuộc.
Khi người bán tính tiền cũng tính theo số lượng với đơn vị là bao nhiêu "giuộc". Có thể một số người mua so kè thắc mắc lượng mắm của mình với của người khác chênh lệnh ít nhiều thì người bán sẽ trả lời: cùng một giuộc làm sao mà khác nhau được!
Ví dụ trên thể hiện ý nghĩa cùng một giuộc là giống nhau về lượng - cái giuộc vừa dùng để múc vừa dùng để đong (định lượng).
3.2. Ví dụ 2: cùng giuộc = giống về chất.
Ví dụ khác, khi nhậu, một người lấy giuộc để múc rượu chứa trong chum/vò/bình lớn (thường là rượu nếp hoặc ngâm thuốc bắc hoặc các loại khác vv) ra chiết ra chén (ly) - chia cho mọi người trong bàn nhậu - nếu có ai đó lại thắc mắc/so bì rượu nhạt hơn của người khác - thì người múc rượu cũng trả lời: "cùng một giuộc thì như nhau cả thôi".
* Thực tế là rượu nếp ngâm hoặc rượu ngâm thuốc bắc vv, phía dưới thường đậm đà hơn phía trên - nên nếu 2 lần múc khác nhau, độ đậm nhạt của rượu có thể khác nhau (đậm nhạt về chất ngâm, không phải về độ cồn)... Thế nên hai giuộc khác nhau thì rượu đậm nhạt có thể khác nhau là bình thường, nhưng cùng 1 giuộc thì coi là chất lượng như nhau.
Trong ví dụ 2 này, cùng một giuộc hàm ý về chất lượng như nhau - và cái giuộc dùng để múc chứ không phải để đong.
4. Kết luận
Như vậy, theo nghĩa gốc thì thành ngữ "cùng một giuộc" để chỉ các đối tượng khác nhau nhưng giống nhau về chất hoặc về lượng hoặc cả hai - mang hàm ý trung tính, không phân biệt tốt xấu. Nghĩa gốc (nghĩa đen) này ngày nay vẫn được dùng để chỉ đối tượng là chất lỏng khi được đong, múc.
Tuy nhiên, nghĩa bóng của thành ngữ để ám chỉ con người trong xã hội (có thể nói nhiều người hoặc nhiều nhóm người), qua cách dùng từ của dân gian, nghĩa của nó lại trôi theo hướng hàm ý những đối tượng xấu (mang nghĩa tiêu cực).

Care:

Address

242 Phan Đình Phùng
Tinh Pleiku
600000

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Vua Đồ Cũ Gia Lai posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share

Category