06/02/2026
Xuân Ất Tỵ 2025 Tưởng nhớ người cô kính yêu đã hy sinh cả cuộc đời cho sự nghiệp Đạo. Cô tuổi Kỷ Tỵ 1929.
Lời bài thơ là của dượng bốn Nhiệm. Nguyên sĩ tải Đặng Ngọc Dương Trưởng ban phổ tế tỉnh đạo tỉnh Bình Định.
Để làm bài học cho nhau,
Tôi xin tường thuật trước sau rõ ràng.
Trải qua nhiều lớp nhiều màn,
Cũng trong nhân quả hoá ban sự đời.
Coi như câu chuyện nghe chơi,
Bên trong thấy rõ luật trời trả vay.
Điễn hình cô Ba xã này,
Nếu người nhẹ dạ e rày lệ sa !
Kể từ lúc lọt ra lòng mẹ,
Cảnh bần hàn đã hé cho cô !
Cha nhà vắng số xuống mồ,
Bỏ người vợ goá và cô cơ hàn.
Kể từ đó cô sang ông bác (Bác Đổng)
Bịnh ông này lỡ lác nan y.
Dù cho cực nhọc cũng tuỳ,
Cho tròn đạo nghĩa, lại thì ấm thân.
Tuổi còn nhỏ phong trần quá sớm,
Ông bác này cũng tóm theo cha.
Nỗi niềm đau đớn xót xa,
Mẹ thì phóng đãng không nhà náo nương.
Phải tìm đường lo phương sinh sống,
Đi ở thuê đồng rộng chăn bò.
Tuy là mặc ấm ăn no,
Cái thân ở đợ, tự do đâu còn ?
Không thể mãi chìu lòn tôi tớ,
Cô về nhà cùng ở bác Năm (Bác Dũng).(1)
Làm nghề kéo sợi rất chăm,
Là phương sinh sống đôi năm tại nhà.
Lại gặp lúc Trời Cha phước báo,
Ngài Huỳnh Thanh đem đạo về Trung.
Bà con lớn nhỏ tương phùng,
Đến nhà Lạc Thiện phục tùng nhập môn.
Bây giờ được ôn tồn sắp đặt,
Bác chín già dẫn dắt về nuôi (Bác Túc).
Cùng chung chia sớt ngọt bùi,
Lo tu, giúp việc tới lui đỡ đần.
Thời gian qua không gần, không chậm,
Dâu bác nhà bịnh thậm qua đời.
Chị bốn xuất giá lâu rồi,
Anh ba huyền tục vãng hồi nợ duyên.
Một thời gian tạm yên, tạm sống,
Nhưng lâu ngày ứ đọng nhiều điều.
Bỡi vì thiếu hẳn tình yêu,
Không thể chung sống thêm nhiều ngày hơn.
Nhưng cũng may được ơn Thầy độ,
Ngọc Linh Đài dùng cổ lập công.
Phục tùng mọi việc ngoài trong,
Lo phần nội trợ trù phòng mấy năm.
Đầu họ Phát chí chăm lãnh đạo,
Cô lo tròn chu đáo thời gian.
Công phu công quả thân an,
Mãn đời cụ Phát chuyển sang ông kề.
Cụ lễ Kim đã về đầu họ,
Tiếp tục luôn chẳng bỏ cô ra.
Cảm tình nồng hậu mặn mà,
Lo tròn phận sự thật thà người thương.
Vì cơ đạo địa phương tiến bộ,
Lập Thiên Bàn do số đạo tâm.
Xuân Cang chánh sự tay cầm,
Mời cô về giữ phần âm (nữ) xã nhà.
Kể từ đó cô là chánh sự,
Của xã nhà phái nữ bầu lên.
Từ đây đã có tuổi tên,
Lo phần giáo hoá về bên nữ đồ.
Bao tài sản nhập vô xã đạo,
Cho đến khi kiến tạo Thiên Bàn.
Mỹ Trung cơ sở đàng hoàng,
Ngày đêm thường trực lo toan mọi bề.
Việc sinh sống xích xê nghề nghiệp,
Phần chăn nuôi kế tiếp sinh nhai.
Tuy là không hợp Cao Đài,
Hoàn cảnh đặc biệt an bài thời gian.
Cuộc sống mới bước sang phát triển,
Thêm được nhiều phương tiện lập công.
Hon đa, máy gạo tương đồng,
Đều công cộng hoá không lòng tư riêng.
Việc cô đã tạm yên tạm ổn,
Nghĩ đến phần lộn xộn mẹ già.
Đem thân tái giá bỏ nhà,
Ông chồng vĩnh biệt bỏ mà hai con.
Đứa trai chẳng lo tròn đạo nghĩa,
Đứa gái thì vô địa sinh nhai.
Bà mẹ vất vả trần ai,
Chạnh lòng trắc ẩn đáo lai thỉnh về.
Mẹ con sống cận kề nương níu,
Nơi Thiên Bàn chẳng thiếu tiện nghi.
Từ đây gìn giữ tu trì,
Mẹ con âu yếm trọn thì mấy năm.
Cô Ba đã chí chăm trọn đạo,
Nuôi mẹ già chu đáo trọn bề.
Nhưng cô thì bịnh rề rề,
Nắm xương da bọc thảm thê quá chừng !
Ngồi lại mâm chỉ bưng chén bún,
Một phần hai gói bún mì chay.
Đó là mức sống hằng ngày,
Cơm vào thì bị dạ dày phát đau.
Bà con đã cùng nhau góp ý,
Đưa bà về an nghĩ cùng em.
Bịnh cô may bớt thử xem,
Nếu mà không tính cùng đem ra gò.
Suy tính kỹ đắn đo nên thuận,
Bà tán đồng nên khứng đưa đi.
Thời gian mấy tháng bà quy,
Lễ nghi, tống táng cũng thì cô lo.
Thân ốm o bo bo đủ thứ,
Cô đi rồi cơ sự ai lo ?
Phận cô như lái chiếc đò,
Thuận buồm xuôi gió đỡ cho phần nào.
Nếu ra đi ai vào thay thế ?
Người xuất gia đâu dễ lắm đa.
Hiến thân gìn giữ đạo nhà,
Dốc lòng thành nguyện ai mà đua chen.
Sức khoẻ cô như đèn trước gió,
Nhờ ơn Thầy để đó ráng tu.
Xét về công quả công phu,
Đáng ra là đã thăng phù Lễ sanh.
Nhưng bỡi vì đàn anh không thuận,
Không chấp hành không chứng cho đi.
Chánh sự cứ mãi giữ y,
Thiếu phần quyền pháp ở thì kiếp sanh.
Đến khi liễu thua đành một phẩm,
Về đến Thầy e chậm thua người.
Bền lòng giữ chữ nhứt như,
Tứ thời tịnh dưỡng hồng từ Mẹ ban.
Mong sao cô đặng an thể xác,
Cho tâm hồn tháo đạt Chơn như.
Cầu xin Đức Mẹ đại từ,
Ban ơn cho cổ Chơn như sáng ngời.
P/S: Cô Ba Tần (người bên phải)
----------‐----------------
Bình luận về bài thơ tưởng nhớ Cô Ba Tần
Bài thơ của dượng bốn Nhiệm – nguyên sĩ tải Đặng Ngọc Dương, không chỉ là một bản tường thuật về cuộc đời của Cô Ba Tần mà còn là một bài học sâu sắc về nhân quả, đạo nghĩa và lòng kiên trì phụng sự đạo pháp.
Từ những câu đầu tiên, bài thơ đã khẳng định rằng đây không chỉ là một câu chuyện để kể mà là một bài học về cuộc đời. Qua từng câu chữ, tác giả mô tả hành trình đầy gian truân của Cô Ba, từ thuở ấu thơ bất hạnh, mồ côi cha, mẹ phóng đãng, đến những năm tháng lăn lộn mưu sinh và cuối cùng là con đường hiến dâng trọn đời cho Đạo.
Hành trình của cô là minh chứng rõ ràng cho quy luật nhân quả. Dù sinh ra trong hoàn cảnh cơ hàn, cô vẫn kiên tâm theo đuổi con đường đạo đức. Không than thân trách phận, cô sống bằng lòng kiên nhẫn, sự nhẫn nại và sự hy sinh thầm lặng. Tác giả không chỉ ghi nhận mà còn ngợi ca sự cống hiến của cô trong việc phát triển đạo tại địa phương, từ việc phục vụ trong nội bộ đến việc giữ chức vụ chánh sự nữ.
Bài thơ cũng phản ánh những khó khăn trong tổ chức và thăng tiến đạo pháp. Dù cô xứng đáng được thăng phẩm nhưng vì nhiều lý do, cô không được chứng nhận đúng theo công đức đã lập. Đây là một nỗi niềm tiếc nuối nhưng cũng là một bài học về sự bền lòng, giữ trọn đạo nghĩa mà không màng danh vị.
Đọc bài thơ, người ta không chỉ cảm nhận được nỗi thương tiếc dành cho một người phụ nữ đã cống hiến cả đời mà còn thấm thía bài học về lòng kiên trung, sự hy sinh và đạo hạnh. Hình ảnh Cô Ba Tần hiện lên không chỉ như một nhân vật lịch sử trong đạo mà còn là một tấm gương sáng cho những thế hệ sau noi theo.
Tóm lại, bài thơ không chỉ đơn thuần là một lời tưởng nhớ mà còn là một lời nhắn nhủ về đạo lý làm người, về sự bền bỉ phụng sự và sự an nhiên trước quy luật nhân sinh. Một cuộc đời đầy thăng trầm nhưng cũng đầy ý nghĩa, đáng để hậu thế khắc ghi.